ỨC CHẾ BETA TRONG SUY TIM DO RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÂM THU


UP TO DATE 12/2013.

Người dịch:Bs Huỳnh Hữu Năm, Bs Huỳnh Đình Lai

1. GIỚI THIỆU: Những thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy rằng ức chế receptor adrenergic beta giúp cải thiện triệu chứng, giảm tỷ lệ nhập viện và gia tăng tỷ lệ sống sót ở bệnh nhân suy tim  và rối loạn chức năng tâm thu [1-3]. Vì vậy, ức chế beta là một thành phần quan trọng trong liệu pháp điều trị chuẩn ở bệnh nhân có triệu chứng trước đây hoặc hiện tại của suy tim và giảm chức năng tâm thu thất trái.

2. LỢI ÍCH LÂM SÀNG: Những thử nghiệm về ức chế beta ở bênh nhân suy tim do rối loạn chức năng tâm thu đã cho thấy giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ nhập viện và triệu chứng suy tim. Có nhiều thử nghiệm đã cho thấy lợi ích sống sót với một vài thuốc ức chế beta (metoprolol giải phóng chậm, carvedilol và bisoprolol) ở những bệnh nhân suy tim có chọn lọc.

Lợi ích của thuốc này được minh họa trong một nghiên cứu gộp của 22 thử nghiệm trên hơn 10.000 bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái < 35 - 45 %, hầu hết có suy tim NYHA II hoặc III và cũng được điều trị với thuốc ức chế men chuyển [1]. Những phát hiện dưới đây đáng chú ý:

     - Ức chế beta giảm có ý nghĩa về tỷ lệ tử vong toàn bộ sau 1 năm (OR 0.65, 95% CI 0.53-0.80) và sau 2 năm (OR 0.72, 95% CI 0.61-0.84). Tỷ lệ tử vong của nhóm giả dược là 12 % (xuất phát từ 3 nghiên cứu lớn nhất và hầu hết các thử nghiệm gần đây) sau 1 năm thì  nhóm dùng ức chế beta cứu được 3,8 bệnh nhân trong 100 bệnh nhân sau 1 năm.

     - Ức chế beta cũng giảm tỷ lệ nhập viện của suy tim (OR 0.64, 95% CI 0.53-0.79) với lợi ích tuyệt đối là giảm được < 4 lần nhập viện ở trên 100 bệnh nhân điều trị sau 1năm.

Một phát hiện tương tự đã được thấy ở một phân tích gộp khác [2].

Lợi ích về triệu chứng (chẳng hạn như cải thiện chỉ số triệu chứng, phân độ chức năng theo NYHA, khả năng dung nạp khi gắng sức) đã được quan sát ở những thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh metoprolol CR/XL hoặc carvedilol với placebo [4-6].

3. CHỈ ĐỊNH CỦA LIỆU PHÁP ỨC CHẾ BETA

Những khuyến cáo chính đã đưa ra cách sử dụng ức chế beta ở bệnh nhân suy tim do rối loạn chức năng tâm thu tương tự nhau:

- ACC/AHA năm 2013 đã khuyến cáo liệu pháp ức chế beta (với một trong 3 thuốc đã được chứng minh giảm tỷ lệ tử vong) ở những bệnh nhân có triệu chứng hiện tại hoặc trước đây và suy chức năng tâm thu thất trái [3]. Những bệnh nhân bắt đầu liệu pháp ức chế beta nên không có hoặc có tối thiểu bằng chứng ứ dịch, đang dung thuốc ức chế men chuyển và không đang dung thuốc tăng co bóp cơ tim tĩnh mạch.

- Khuyến cáo của Hiệp hội suy tim Mỹ năm 2010 cũng có những khuyến cáo tương tự đối với những bệnh nhân suy tim có EF ≤40 % [7]. Khởi trị ở những bệnh nhân ổn định trong bệnh viện trước khi xuất viện được khuyến cáo khi có thể.

- Khuyến cáo của Hội tim mạch Châu Âu năm 2012 đã khuyến cáo liệu pháp ức chế beta ở những bệnh nhân có LVEF ≤40 % [8].

Khuyến cáo của chúng tôi: Trong trường hợp không có chống chỉ định, chúng tôi khuyến cáo dùng carvedilol, metoprolol succinate phóng thích chậm hoặc bisoprolol ở bệnh nhân suy tim hiện tại hoặc trước đây và có LVEF ≤40 %. Những bệnh nhân này nên được điều trị với ACEI, hạn chế muối và lợi tiểu khi có ứ dịch, cũng như những liệu pháp khác được chỉ định. Những thuốc có hoạt động giao cảm nội tại nên được tránh [1].

Chống chỉ định tương đối

Những thử nghiệm về ức chế beta loại trừ những bệnh nhân có chống chỉ định thuốc ức chế beta tuyệt đối và tương đối [1]. Những chống chỉ định tương đối ở những bệnh nhân suy tim bao gồm:

     - Nhịp tim <60 lần/phút

     - Hạ huyết áp có triệu chứng

     - Có bằng chứng của ứ đọng dịch.

     - Dấu hiệu của giảm tưới máu ngoại biên

     - Khoảng PR > 0.24 giây

- Bloc nhĩ thất cấp II hoặc cấp III

     - Tiền sử hen hoặc đường thở kích ứng(reactive airways)

     - Bệnh động mạch ngoại biên với thiếu máu chi khi nghĩ ngơi

4. CÁCH DÙNG

Khởi trị

Trước khi khởi trị, bệnh nhân nên được thông báo rằng thuốc ức chế beta có thể làm gia tăng triệu chứng suy tim. Tuy nhiên, khi bắt đầu liều thấp và theo dõi cẩn thận sẽ giảm tối thiểu triệu tác dụng này. Những khuyến cáo để khởi trị một cách an toàn đã được xuất bản [9].

Thời gian

Trước khi khởi trị liệu pháp, bệnh nhân nên không có hoặc có tối thiểu triệu chứng ứ dịch và không cần thuốc tăng co bóp cơ tim bằng đường tĩnh mạch.

Thuốc ức chế men chuyển nhìn chung là được dùng trước khi thuốc ức chế beta. Sự ưu tiên này là phần lớn dựa vào những thử nghiệm lâm sàng của ức chế beta. Tuy nhiên, những thử nghiệm sau này (như thử nghiệm CIBIS III) gợi ý rằng dự hậu có thể giống nhau nếu thuốc ức chế beta được cho trước.

Kết quả từ thử nghiệm IMPACT-HF và nghiên cứu OPTIMIZE-HF ủng hộ việc khởi trị với ức chế beta ở bệnh nhân ổn định trước khi xuất viện [10,11]. Trong thử nghiệm IMPACT-HF cho thấy khởi trị ức chế beta trong bệnh viện so với nhóm khởi trị sau đó làm gia tăng việc sử dụng thuốc ức chế beta lên 60 ngày mà không làm bất kể sự gia tăng nào về suy tim, hạ huyết áp, nhịp chậm và bỏ thuốc [10].

Lựa chọn thuốc

Chúng tôi khuyến cáo dùng carvedilol, bisoprolol, hoặc metoprolol succinate giải phóng chậm bởi vì những thuốc này đã được chứng minh cho thấy rằng nó làm giảm được tỷ lệ tử vong do tất cả các nguyên nhân và giảm tỷ lệ nhập viện ở bệnh nhân suy tim có rối loạn chức năng tâm thu thất trái (LVEF ≤35 đến 40 %) ở những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên.

Số liệu về so sánh tác dụng của 3 thuốc này còn hạn chế. Có bằng chứng không trực tiếp gợi ý rằng carvedilol có thể cải thiện LVEF hơn metoprolol. Những bệnh nhân với huyết áp thấp có thể ít có khả năng dung nạp với carvedilol do khả năng giãn mạch của nó. Ngược lại, carvedilol ưu tiên dùng ở những bệnh nhân có huyết áp cao.

Liều thuốc

Liệu pháp nên được bắt đầu với liều rất thấp và liều được tăng gấp đôi trong khoảng thời gian đều đặn (mỗi 2 – 3 tuần) đến khi đạt được liều đích và triệu chứng trở nên giới hạn [14]. Liều khởi đầu và liều đích của mỗi thuốc như sau:

     - Carvedilol, 3.125 mg, 2 lần/ngày với liều đích là 25 - 50 mg, 2 lần/ngày (liều cao hơn có thể dùng ở những người trên 85 kg).

     - Metoprolol succinate giải phóng chậm, 12.5 hoặc 25 mg/ngày với liều đích là 200 mg/ngày.

     - Bisoprolol, 1.25 mg, 1 lần/ngày với liều đích là 5 - 10 mg, 1 lần/ngày.

Bệnh nhân nên cân nặng hằng ngày và báo cho bác sĩ nếu tăng 1 – 1,5 kg. Chỉ tăng cân đơn thuần thì có thể điều trị bằng lợi tiểu nhưng nếu phù đề kháng điều trị hoặc suy tim nặng hơn thì cần phải giảm liều hoặc ngừng thuốc (có thể ngừng tạm thời).

Nên cố gắng để đạt được liều đích. Tỷ lệ đạt liều đích trong các thử nghiệm lâm sàng cao hơn trong dân số chung vì trong dân số chung thì bệnh nhân lớn tuổi hơn và có nhiều bệnh kèm hơn. Tuy nhiên, mặc dù không tối ưu, khi liều thấp hơn tỏ ra có hiệu quả thì nên dùng hơn khi liều cao hơn không dung nạp.

Thay đổi thuốc

Có ít các dữ liệu để hướng dẫn thay đổi một thuốc ức chế beta không được khuyến cáo trong suy tim cho một thuốc ức chế beta được khuyến cáo cho suy tim hoặc thay đổi một trong 3 thuốc ức chế beta được khuyến cáo cho suy tim. Bất kỳ sự chuyển đổi thuốc nào cũng phải thật thận trọng vì thuốc có cơ chế hoạt động khác nhau.

Một phương pháp phù hợp để thay đổi là thay qua một thuốc với liều tương đương hoặc thấp hơn so với phần trăm liều tối đa của thuốc ức chế beta. Ví dụ, thường dùng liều tối đa của carvedilol là 25 mg, 2 lần/ngày, metoprolol succinate, 200 mg/ ngày và metoprolol tartrate 100 mg, 2 lần/ngày (thuốc metoprolol tartrate không khuyến cáo cho suy tim). Vì vậy, có thể thay đổi từ metoprolol tartrate 50 mg, 2 lần/ngày sang carvedilol 12.5mg, 2 lần/ngày (50% liều tối đa). Liều carvedilol sau này nên được điều chỉnh khi có chỉ định.

Dùng một thuốc mới nên được trì hoãn ít nhất đến khi liều tiếp theo dự đoán của liều cuối cùng (ví dụ 12 giờ sau khi sau khi dùng liều cuối cùng đối với carvedilol hoặc metoprolol tartrate hoặc 24 giờ với metoprolol succinate).

Những quan sát ở giai đoạn sau của thử nghiệm COMET cho thấy rằng phương pháp tương tự để thay đổi giữa metoprolol and carvedilol là thực tế và dung nạp tốt [15].

Thời gian liệu pháp

Mặt dù những bằng chứng về thời gian dùng ức chế beta tối ưu còn ít, những dữ liệu hiện có ủng hộ việc tiếp tục liệu pháp ức chế beta ở bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thu và tiền sử có suy tim [3,16,17].

Sử dụng với các thuốc điều trị suy tim khác

Thuốc ức chế men chuyển, ức chế thụ thể angiotensin II (ARBs) và kháng aldosterone cũng như kết hợp với  hydralazine  và nitrate ở những người da đen đã cải thiện tỷ lệ sống sót ở những bệnh nhân suy tim do rối loạn chức năng tâm trương. Lợi ích của các thuốc này có vẻ là góp thêm vào ích lợi của ức chế beta.

ACEI: Điều trị suy tim với thuốc ức chế beta kết hợp với ức chế men chuyển là có hiệu quả hơn là dùng đơn thuần một thuốc (Hình bên dưới) [18].

 

ARBs: Kết hợp thuốc ức chế beta kết hợp với ức chế thụ thể angiotensin II là có hiệu quả hơn là dùng đơn thuần một thuốc [19].

Những dữ liệu về phối hợp thuốc ức chế thụ thể angiotensin II vào liệu pháp kết hợp ƯCMC và ức chế beta còn bàn cải [20,21]. Chúng tôi cho rằng những dữ liệu ủng hộ việc phồi hợp thêm vào thuốc ARB là có hiệu quả hơn. Nếu dung nạp, bệnh nhân có suy tim độ II đến III, có chức năng thận bình thường và nồng độ kali máu bình thường thì chúng tôi khuyên phối hợp thuốc ARB với ACEI và (-) beta.

Kháng aldosterone: Bằng chứng từ thử nghiệm EPHESUS và RALES ủng hộ lợi ích của thuốc kháng aldosterone ở bệnh nhân dùng ức chế beta [22,23]. Tương tự, những bệnh nhân đang uống kháng aldosterone tỏ ra có lợi hơn khi thêm vào thuốc ức chế beta [24].

Hydralazine phối hợp với nitrate

Bằng chứng từ thử nghiệm AHeFT ủng hộ lợi ích của hydralazine phối hợp với nitrate ở người Mỹ gốc Phi uống ức chế beta [25,26].

Dùng với aspirin

Một vài quan ngại đã được nhắc đến rằng dùng aspirin có thể ảnh hưởng đến điều trị suy tim, mặc dù bằng chứng cho những tương tác còn ít ỏi.

     - Một phân tích post-hoc gợi ý rằng việc dùng aspirin có thể làm giảm tác dụng có lợi của ức chế beta (carvedilol) trên LVEF [27].

     - Một tương tác thuốc giữa aspirin và ACEI đã được báo cáo. Tuy nhiên, hầu hết các bằng chứng hiện tại không ủng hộ những tác dụng ức chế của aspirin trên hậu quả lâu dài về lợi ích của thuốc ức chế men chuyển trên suy tim.

5. TÁC DỤNG PHỤ

Những tác dụng phụ chính của thuốc ức chế beta bao gồm làm nặng thêm suy tim. Nhịp chậm, hạ huyết áp, co thắt phế quản và gia tăng bệnh mạch máu ngoại vi. Những lo ngại về tác dụng phụ của ức chế beta có thể ngăn cản các nhà lâm sàng dùng thuốc này mặc dù những lợi ích được công nhận [28].

Tỷ lệ bỏ thuốc trong thời gian sàng lọc số liệu của các thử nghiệm lâm sàng khoảng 5% [1]. Tỷ lệ bỏ thuốc cho tất cả nguyên nhân đang điều trị ức chế beta là 16%, điều này thật sự là ít hơn nhóm giả dược (18%) [29]. Những tác dụng phụ thường gặp có ý nghĩa với thuốc ức chế beta là xoàng đầu (22 so với 17 % của nhóm giả dược)  và nhịp chậm (6 so với 2%) [29].

Làm nặng triệu chứng suy tim

Trong suốt thời gian khởi trị thuốc ức chế beta: bệnh nhân có thể có một giai đoạn có triệu chứng suy tim nặng hơn kéo dài từ 2 tuần đến 2 tháng. Điều này được giảm tối thiểu với việc khởi trị với liều rất thấp và điều chỉnh lên mỗi 2 tuần đến khi đạt liều đích. Yếu tố chính làm hạn chế việc chỉnh liều thuốc là nhịp chậm. Những tác dụng này giảm sau 3 tháng sau khi khởi trị với ức chế beta [14]. Điều tương tự, trong thử nghiêm COPERNICUS ở bênh nhân suy tim độ III và IV, có một tỷ lệ thấp phản ứng phụ xảy ra đối với carvedilol [30,31]. Trong suốt 8 tuần điều trị của thử nghiệm (liều khởi trị và thời gian điều chỉnh liều), tỷ lệ tử vong và nhập viện vì bất kỳ nguyên nhân nào là không cao hơn ở nhóm carvedilol so với nhóm giả dược (12.3 so với 14.4 %) [31]. Trong suốt 8 tuần đầu, tỷ lệ suy tim nặng hơn của nhóm carvedilol là 5,1 % so với nhóm giả dược là 6,4%. Tỷ lệ suy tim nặng hơn thấp khả năng là do sự cần thiết của cân bằng thể tích (không được ứ dịch) và sự cố gắng duy trì tình trạng cân bằng thể tích trong suốt thời gian nghiên cứu. Hơn nữa, những người điều tra là những người có nhiều kinh nghiệm trong điều trị suy tim. Việc quản lý cẩn thận là quan trọng khi khởi trị ức chế beta, đặc biệt ở những bệnh nhân suy tim cao độ.

Trong suốt thời gian duy trì liệu pháp: Một vấn đề khác là quản lý đợt cấp của suy tim ở những bệnh nhân đã ổn định với liệu pháp ức chế beta trong hơn 3 tháng. Để có lợi ích của ức chế beta, khuyến cáo của ACC/AHA và nhiều chuyên gia tim mạch khuyên tiếp tục dùng ức chế beta và tăng cường thêm lợi tiểu và những thuốc khác nếu đợt cấp này nguyên ủy xuất phát từ quá tải dịch mà không có thay đổi về mặt huyết động [3,32]. Mặc khác, sự ngừng tạm thời thuốc ức chế beta cũng là hợp lý nếu đợt cấp của suy tim này được đặc trưng bởi giảm tưới máu, nhịp chậm và cần thuốc tăng co bóp. Thuốc tăng co bóp mà độc lập với thụ thể giao cảm beta, chẳng hạn như milrinone (ức chế phosphodiesterase) có thể ưu tiên hơn trong trường hợp này. Sự bắt đầu lại ức chế beta được cho phép nếu bệnh nhân ổn định trở lại.

Những tác dụng phụ khác: Nguy cơ của những tác dụng phụ khác của ức chế beta ngoài làm nặng hơn suy tim là nhỏ trong các thử nghiệm lâm sàng. Một phân tích của 9 nghiên cứu, những tác dụng phụ thường gặp của ức chế beta hơn so với giả dược là hạ huyết áp (7,6 so với 6,1%), xoàng đầu (21.5 so với 16.6 %), và nhịp chậm (5.7 so với 1.8 %) [29].

Nếu hạ huyết áp có triệu chứng xảy ra với carvedilol, việc dùng thử metoprolol succinate hoặc bisoprolol nên cân nhắc. Một sự giảm liều các thuốc gây hạ huyết áp khác (như ức chế men chuyển và ức chế thụ thể angiotensin II) hoặc nitratr và lợi tiểu nên được xem xét [8].

6. Ở NHỮNG BỆNH NHÂN ĐẶC BIỆT

Phương pháp chung: có ít những bằng chứng ủng hộ việc sử dụng thuốc ức chế beta ở những bệnh nhân đặc biệt. Có bằng chứng ủng hộ việc sử dụng thuốc ức chế beta để điều trị suy tim do rối loạn chức năng tâm thu ở bệnh nhân bệnh cơ tim thiếu máu hoặc không thiếu máu, suy tim độ IV ổn định, đái tháo đường, phụ nữ và người lớn tuổi.

- Ở bệnh cơ tim thiếu máu hoặc không thiếu máu: Những thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy rằng sự cải thiện được thời gian gắng sức, ổn định chức năng thất trái, tỷ lệ tử vong là tương tự cả hai nhóm bệnh cơ tim thiếu máu và không thiếu máu [33-35].

- Suy tim giai đoạn IV: Lợi ích về tử suất của ức chế beta tỏ ra gia tăng ở những bệnh nhân nặng với suy tim giai đoạn III và IV [4,5,30].

Kết hợp với dobutamine: Những bệnh nhân có suy tim nặng mất bù sẽ được điều trị với dobutamine. Trong trường hợp này, việc sử dụng carvedilol trước khi dùng dobutamin làm giảm nhiều tác dụng tăng co bóp của dobutamin, trong khi đó metoprolol có rất ít tác dụng ức chế này [36]. Mặc khác, dùng những thuốc tăng co bóp mà hoạt động độc lập với thụ thể giao cảm beta trong trường hợp này là được ưu tiên hơn như milrinone ức chế men phosphodiesterase.

- Sử dụng ở nữ giới: Phụ nữ đã được mô tả không đúng cách ở những thử nghiệm ức chế beta, nhưng có vẻ là có lợi tương tự như nam giới [37,38].

- Sử dụng ở bệnh nhân đái tháo đường: Một phân tích gộp trên 1883 bệnh nhân đái tháo đường và 7042 bệnh nhân không đái tháo đường, lợi ích sống sót với liệu pháp ức chế beta là có ý nghĩa ở cả hai nhóm (RR lần lượt là 0.77 và 0.65) [38].

- Sử dụng ở bệnh nhân COPD: ức chế beta chọn lọc beta 1 (như metoprolol hoặc atenolol) tỏ ra là an toàn ở bệnh nhân COPD thậm chí là khi có co thắt. Một phân tích gộp của những thử nghiệm chính cho thấy không có thay đổi về FEV1, triệu chứng hô hấp, hoặc việc sử dụng thuốc kích thích beta dạng hít được thấy [42,43]. Những dữ liệu còn hạn chế gợi ý rằng ức chế beta không chọn lọc (như carvedilol) có thể an toàn trong trường hợp COPD nhưng ít dung nạp ở bệnh nhân hen phế quản [44].

- Sử dụng ở người lớn tuổi: Tất cả các thử nghiệm lâm sàng chính trên đối tượng người lớn tuổi cho thấy có lợi ích tương tự như người trẻ tuổi. Thử nghiệm SENIORS đã đánh giá hiệu quả của nebivolol (một ức chế beta 1 chọn lọc và đồng vận beta 3) với tác dụng giãn mạch ở bệnh nhân ≥70 tuổi có tiền sử nhập viện vì suy tim trong năm trước hoặc những người đã biết LVEF  ≤35 % [45]. Nebivolol giúp giảm có ý nghĩa tỷ lệ tử vong do tất cả nguyên nhân hoặc tỷ lệ nhập viện.

- Sử dụng ở bệnh nhân lọc máu: Những bằng chứng hiện có bao gồm một thử nghiệm về carvedilol ngẫu nhiên, nhỏ gợi ý rằng ức chế beta có lợi ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo có suy tim do rối loạn chức năng tâm thu [46].

7. KẾT LUẬN

a. Sử dụng những thuốc ức chế beta nhất định ở bệnh nhân suy tim do rối loạn chức năng tâm thu, đặc biệt là carvedilol, metoprolol succinate, và bisoprolol, giúp giảm được tỷ lệ nhập viện vì suy tim và cải thiện sống sót.

b. Những dữ liệu sẵn có cũng ủng hộ việc sử dụng thuốc ức chế beta để điều trị suy tim do rối loạn chức năng tâm thu ở nhóm bệnh nhân bệnh cơ tim thiếu máu và không thiếu máu, suy tim ổn định giai đoạn IV, phụ nữ, đái tháo đường và người lớn tuổi.

c. Ở những bệnh nhân đang có suy tim hoặc có suy tim trước đây và LVEF ≤ 40 %, chúng tôi khuyến cáo dùng ức chế beta (mức độ 1A). Chúng tôi tin tưởng rằng những nhà lâm sang nên chọn những thuốc ức chế beta đã được chứng minh có lợi cho suy tim (bao gồm giảm tỷ lệ tử vong do tất cả nguyên nhân) ở những thử nghiệm ngẫu nhiên (carvedilol, metoprolol succinate giải phóng kéo dài, hoặc bisoprolol).

d. Trước khi khởi trị, bệnh nhân nên không có hoặc có tối thiểu bằng chứng của ứ trệ dịch, liệu pháp ức chế beta nên được khởi trị ở những bệnh nhân ổn đình trước khi xuất viện.

e. Liệu pháp ức chế beta gia tăng lợi ích khi điều trị phối hợp với ACEI, ARB hoặc kháng aldosterone.

f. Liệu pháp ức chế men chuyển nên nhìn chung được khởi trị trước khi liệu pháp ức chế beta bắt đầu. Những dữ liệu ủng hộ cho việc khởi trị ức chế beta trước còn hạn chế.

g. Liệu pháp ức chế beta nên được bắt đầu với liều rất thấp và gia tăng liều gấp đối với khoảng thời gian đều đặn (thường là mỗi 2 đên 3 tuần) đến khi đạt được liều đích hoặc triệu chứng (suy tim nặng hơn) trở nên giới hạn hoặc hạ huyết áp có triệu chứng hoặc nhịp tim quá chậm (< 50l/p). Liều khởi trị và liều đích là:

h. Carvedilol, 3.125 mg, 2 lần/ngày với liều đích là 25 - 50 mg, 2 lần/ngày (liều cao hơn có thể dùng ở những người trên 85 kg).

g. Metoprolol succinate giải phóng chậm, 12.5 hoặc 25 mg/ngày với liều đích là 200 mg/ngày.

l. Bisoprolol, 1.25 mg, 1 lần/ngày với liều đích là 5 - 10 mg, 1 lần/ngày.

Cần cố gắng để đạt liều đích thông qua việc điều chỉnh liều cá nhân hóa. Khi liều đích không dung nạp, thậm chí liều thấp tỏ vẻ có lợi mặc dù chúng không tối ưu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Brophy JM, Joseph L, Rouleau JL. Beta-blockers in congestive heart failure. A Bayesian meta-analysis. Ann Intern Med 2001; 134:550.
  2. Foody JM, Farrell MH, Krumholz HM. beta-Blocker therapy in heart failure: scientific review. JAMA 2002; 287:883.
  3. WRITING COMMITTEE MEMBERS, Yancy CW, Jessup M, et al. 2013 ACCF/AHA guideline for the management of heart failure: a report of the American College of Cardiology Foundation/American Heart Association Task Force on practice guidelines. Circulation 2013; 128:e240.
  4. Packer M, Fowler MB, Roecker EB, et al. Effect of carvedilol on the morbidity of patients with severe chronic heart failure: results of the carvedilol prospective randomized cumulative survival (COPERNICUS) study. Circulation 2002; 106:2194.
  5. Goldstein S, Fagerberg B, Kjekshus J, et al. Metoprolol controlled release/extended release in patients with severe heart failure: analysis of the experience in the MERIT-HF study. J Am Coll Cardiol 2001; 38:932.
  6. Krum H, Sackner-Bernstein JD, Goldsmith RL, et al. Double-blind, placebo-controlled study of the long-term efficacy of carvedilol in patients with severe chronic heart failure. Circulation 1995; 92:1499.
  7. Heart Failure Society of America, Lindenfeld J, Albert NM, et al. HFSA 2010 Comprehensive Heart Failure Practice Guideline. J Card Fail 2010; 16:e1.
  8. McMurray JJ, Adamopoulos S, Anker SD, et al. ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure 2012: The Task Force for the Diagnosis and Treatment of Acute and Chronic Heart Failure 2012 of the European Society of Cardiology. Developed in collaboration with the Heart Failure Association (HFA) of the ESC. Eur Heart J 2012; 33:1787.
  9. Eichhorn EJ, Bristow MR. Practical guidelines for initiation of beta-adrenergic blockade in patients with chronic heart failure. Am J Cardiol 1997; 79:794.
  10. Gattis WA, O'Connor CM, Gallup DS, et al. Predischarge initiation of carvedilol in patients hospitalized for decompensated heart failure: results of the Initiation Management Predischarge: Process for Assessment of Carvedilol Therapy in Heart Failure (IMPACT-HF) trial. J Am Coll Cardiol 2004; 43:1534.
  11. Fonarow GC, Abraham WT, Albert NM, et al. Carvedilol use at discharge in patients hospitalized for heart failure is associated with improved survival: an analysis from Organized Program to Initiate Lifesaving Treatment in Hospitalized Patients with Heart Failure (OPTIMIZE-HF). Am Heart J 2007; 153:82.e1.
  12. Chatterjee S, Biondi-Zoccai G, Abbate A, et al. Benefits of β blockers in patients with heart failure and reduced ejection fraction: network meta-analysis. BMJ 2013; 346:f55.
  13. Go AS, Yang J, Gurwitz JH, et al. Comparative effectiveness of different beta-adrenergic antagonists on mortality among adults with heart failure in clinical practice. Arch Intern Med 2008; 168:2415.
  14. Gottlieb SS, Fisher ML, Kjekshus J, et al. Tolerability of beta-blocker initiation and titration in the Metoprolol CR/XL Randomized Intervention Trial in Congestive Heart Failure (MERIT-HF). Circulation 2002; 105:1182.
  15. Di Lenarda A, Remme WJ, Charlesworth A, et al. Exchange of beta-blockers in heart failure patients. Experiences from the poststudy phase of COMET (the Carvedilol or Metoprolol European Trial). Eur J Heart Fail 2005; 7:640.
  16. Morimoto S, Shimizu K, Yamada K, et al. Can beta-blocker therapy be withdrawn from patients with dilated cardiomyopathy? Am Heart J 1999; 138:456.
  17. Eichhorn EJ. Beta-blocker withdrawal: the song of Orpheus. Am Heart J 1999; 138:387.
  18. Exner DV, Dries DL, Waclawiw MA, et al. Beta-adrenergic blocking agent use and mortality in patients with asymptomatic and symptomatic left ventricular systolic dysfunction: a post hoc analysis of the Studies of Left Ventricular Dysfunction. J Am Coll Cardiol 1999; 33:916.
  19. Granger CB, McMurray JJ, Yusuf S, et al. Effects of candesartan in patients with chronic heart failure and reduced left-ventricular systolic function intolerant to angiotensin-converting-enzyme inhibitors: the CHARM-Alternative trial. Lancet 2003; 362:772.
  20. McMurray JJ, Ostergren J, Swedberg K, et al. Effects of candesartan in patients with chronic heart failure and reduced left-ventricular systolic function taking angiotensin-converting-enzyme inhibitors: the CHARM-Added trial. Lancet 2003; 362:767.
  21. Cohn JN, Tognoni G, Valsartan Heart Failure Trial Investigators. A randomized trial of the angiotensin-receptor blocker valsartan in chronic heart failure. N Engl J Med 2001; 345:1667.
  22. Pitt B, Remme W, Zannad F, et al. Eplerenone, a selective aldosterone blocker, in patients with left ventricular dysfunction after myocardial infarction. N Engl J Med 2003; 348:1309.
  23. Pitt B, Zannad F, Remme WJ, et al. The effect of spironolactone on morbidity and mortality in patients with severe heart failure. Randomized Aldactone Evaluation Study Investigators. N Engl J Med 1999; 341:709.
  24. Krum H, Mohacsi P, Katus HA, et al. Are beta-blockers needed in patients receiving spironolactone for severe chronic heart failure? An analysis of the COPERNICUS study. Am Heart J 2006; 151:55.
  25. Taylor AL, Ziesche S, Yancy C, et al. Combination of isosorbide dinitrate and hydralazine in blacks with heart failure. N Engl J Med 2004; 351:2049.
  26. Taylor AL, Ziesche S, Yancy CW, et al. Early and sustained benefit on event-free survival and heart failure hospitalization from fixed-dose combination of isosorbide dinitrate/hydralazine: consistency across subgroups in the African-American Heart Failure Trial. Circulation 2007; 115:1747.
  27. Lindenfeld J, Robertson AD, Lowes BD, et al. Aspirin impairs reverse myocardial remodeling in patients with heart failure treated with beta-blockers. J Am Coll Cardiol 2001; 38:1950.
  28. Chatterjee K. The fear of beta-blocker therapy in heart failure: time to forget. Arch Intern Med 2004; 164:1370.
  29. Ko DT, Hebert PR, Coffey CS, et al. Adverse effects of beta-blocker therapy for patients with heart failure: a quantitative overview of randomized trials. Arch Intern Med 2004; 164:1389.
  30. Packer M, Coats AJ, Fowler MB, et al. Effect of carvedilol on survival in severe chronic heart failure. N Engl J Med 2001; 344:1651.
  31. Krum H, Roecker EB, Mohacsi P, et al. Effects of initiating carvedilol in patients with severe chronic heart failure: results from the COPERNICUS Study. JAMA 2003; 289:712.
  32. Farrell MH, Foody JM, Krumholz HM. beta-Blockers in heart failure: clinical applications. JAMA 2002; 287:890.
  33. Packer M, Bristow MR, Cohn JN, et al. The effect of carvedilol on morbidity and mortality in patients with chronic heart failure. U.S. Carvedilol Heart Failure Study Group. N Engl J Med 1996; 334:1349.
  34. Bonet S, Agustí A, Arnau JM, et al. Beta-adrenergic blocking agents in heart failure: benefits of vasodilating and non-vasodilating agents according to patients' characteristics: a meta-analysis of clinical trials. Arch Intern Med 2000; 160:621.
  35. Fisher ML, Gottlieb SS, Plotnick GD, et al. Beneficial effects of metoprolol in heart failure associated with coronary artery disease: a randomized trial. J Am Coll Cardiol 1994; 23:943.
  36. Metra M, Nodari S, D'Aloia A, et al. Beta-blocker therapy influences the hemodynamic response to inotropic agents in patients with heart failure: a randomized comparison of dobutamine and enoximone before and after chronic treatment with metoprolol or carvedilol. J Am Coll Cardiol 2002; 40:1248.
  37. Ghali JK, Piña IL, Gottlieb SS, et al. Metoprolol CR/XL in female patients with heart failure: analysis of the experience in Metoprolol Extended-Release Randomized Intervention Trial in Heart Failure (MERIT-HF). Circulation 2002; 105:1585.
  38. Shekelle PG, Rich MW, Morton SC, et al. Efficacy of angiotensin-converting enzyme inhibitors and beta-blockers in the management of left ventricular systolic dysfunction according to race, gender, and diabetic status: a meta-analysis of major clinical trials. J Am Coll Cardiol 2003; 41:1529.
  39. Yancy CW, Fowler MB, Colucci WS, et al. Race and the response to adrenergic blockade with carvedilol in patients with chronic heart failure. N Engl J Med 2001; 344:1358.
  40. Andreka P, Aiyar N, Olson LC, et al. Bucindolol displays intrinsic sympathomimetic activity in human myocardium. Circulation 2002; 105:2429.
  41. Beta-Blocker Evaluation of Survival Trial Investigators. A trial of the beta-blocker bucindolol in patients with advanced chronic heart failure. N Engl J Med 2001; 344:1659.
  42. Salpeter S, Ormiston T, Salpeter E. Cardioselective beta-blockers for reversible airway disease. Cochrane Database Syst Rev 2002; :CD002992.
  43. Salpeter SR, Ormiston TM, Salpeter EE. Cardioselective beta-blockers in patients with reactive airway disease: a meta-analysis. Ann Intern Med 2002; 137:715.
  44. Kotlyar E, Keogh AM, Macdonald PS, et al. Tolerability of carvedilol in patients with heart failure and concomitant chronic obstructive pulmonary disease or asthma. J Heart Lung Transplant 2002; 21:1290.
  45. Flather MD, Shibata MC, Coats AJ, et al. Randomized trial to determine the effect of nebivolol on mortality and cardiovascular hospital admission in elderly patients with heart failure (SENIORS). Eur Heart J 2005; 26:215.
  46. Cice G, Ferrara L, Di Benedetto A, et al. Dilated cardiomyopathy in dialysis patients--beneficial effects of carvedilol: a double-blind, placebo-controlled trial. J Am Coll Cardiol 2001; 37:407.

 

 

Các bản tin khác :