NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN HUYẾT THANH VÀ DỊCH NÃO TỦY Ở BỆNH NHÂN VIÊM MÀNG NÃO MỦ VÀ VIÊM MÀNG NÃO VI RÚT TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG


Phạm Ngọc Hàm*
             Hoàng Khánh** 
  

 

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Chẩn đoán phân biệt viêm màng não mủ (VMNM) và viêm màng não vi rút (VMNVR) vẫn còn là một thách thức cho y học. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy Procalcitonin huyết thanh (PCT/HT) và Procalcitonin dịch não tủy (PCT/DNT) tăng cao trong VMNM.

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát nồng độ ngưỡng và các giá trị tiên đoán của PCT/HT và DNT ở bệnh nhân VMNM và VMNVR. Đánh giá đáp ứng điều trị VMNM qua theo dõi động học của PCT/HT và DNT.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả ngang.  Thực hiện trên 39 bệnh nhân VMNM, 38 VMNVR và 81 chứng từ tháng 4/2013 đến 7/2014 tại khoa Y học Nhiệt đới và khoa Hồi sức Cấp cứu Bệnh viện Đà Nẵng.

Kết quả:

-Nồng độ trung bình PCT/HT ở VMNM (6,38±5,62ng/ml) cao hơn nhiều ở VMNVR (0,15±0,19ng/ml) và nhóm chứng (0,04ng/ml) p<0,001.

- Nồng độ ngưỡng của PCT/HT được khuyến cáo là 0,5 ng/ml, có độ nhạy (ĐN): 92,3%, độ đặc hiệu (ĐH): 97,4%, giá trị tiên đoán dương (+): 97,3%, giá trị tiên đoán âm (-): 92,5%, Diện tích dưới đường cong ROC (AUC): 0,978, p<0,001.

- Nồng độ ngưỡng của PCT/DNT được khuyến cáo là 0,24 ng/ml, có ĐN: 79,5%, ĐH: 100,0%, (+): 96,9%, (-): 82,2%, AUC: 0,929, p<0,001.

- Nhóm VMNM đáp ứng điều trị, ra viện, hồi phục hoàn toàn có nồng độ PCT/HT và PCT/DNT giảm dần trong quá trình điều trị và về gần bình thường trước khi ra viện.

Kết luận:

- Nồng độ PCT/HT và PCT/DNT rất có giá trị phân biệt giữa VMNM và VMNVR.

- Theo dõi nồng độ PCT/HT và PCT/DNT có giá trị đánh giá đáp ứng điều trị

VMNM.
 

 ABSTRACT

STUDY THE SERUM AND CEREBROSPINAL FLUID PROCALCITONIN CONCENTRATION IN PATIENTS BACTERIAL AND VIRAL MENINGITIS

 Rationale: The differential diagnosis between Bacterial meningitis and viral meningitis is still a challenge of medicine, especially at early stage and atypical cases. Some recent studies showed that procalcitonin increased in the Serum and CSF in Bacterial meningitis.

Objectives: Study the concentration threshold serum and CSF PCT and the predictive value of serum and CSF PCT. Assessing the treatment response of bacterial meningitis via monitoring the kinetics of serum and CSF PCT  in bacterial meningitis.

Subjects and Methods: Prospective, cross-sectional descriptive study with comparison. Carried out on 39 patients with bacterial meningitis, 38 patients with viral meningitis and 81 patients in the control group from April 2013 to July 2014 at Tropical Medicine department and ICU department,Da NangHospital.

Results:

- Mean concentration of serum PCT in Bacterial meningitis (6.38 ± 5,62ng/ml) is higher than in viral meningitis (0.15 ± 0.19ng/ml) and control group (0.04 ng/ml), p<0.001.

- The recommended concentration threshold of serum PCT is 0.5ng/ml, with the sensitivity of 92.3%, specificity is 97.4%, positive predictive value is 97.3%, negative predictive value is 92.5%, area under curve (AUC) is 0.978, p <0.001.

- The recommended concentration threshold of CSF PCT is 0.24ng/ml, with the sensitivity of 79.5%, specificity is 100.0%, positive predictive value is 96.9%, negative predictive value is 82.2%, area under curve (AUC) is 0.929, p <0.001.

- The group of bacterial meningitis with good response to the treatment, discharge, full recovery have a decreasing serum PCT and CSF PCT level during the treatment and become nearly normal before discharge.

Conclusions:

- The serum PCT and CSF PCT are very valuable in the differential diagnosis between bacterial meningitis and viral meningitis.

- Monitoring the concentration of PCT and CSF PCT is useful in evaluating the response to the treatment of bacterial meningitis. 

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm màng não mủ (VMNM) là một bệnh nhiễm khuẩn ở hệ thần kinh trung ương do sự xâm nhập của vi khuẩn sinh mủ vào màng não. VMNM người lớn có tỷ lệ tử vong: 25% theo Ziai W.C (2008), từ 13- 27% theo Abrahamian F. M (2008) và 10-14% theo Devlin C. A (2011).

Viêm màng não vi rút (VMNVR) hay còn gọi viêm màng não siêu vi là một dạng viêm màng não do nhiễm vi rút hệ thống.

Trên thực tế lâm sàng việc chẩn đoán phân biệt giữa VMNM và VMNVR còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở những trường hợp không điển hình. Đối với VMNM, yêu cầu việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống còn và mức độ di chứng của người bệnh.

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng xét nghiệm định lượng nồng độ procalcitonin huyết thanh (PCT/HT) và dịch não tủy (DNT) để chẩn đoán sớm VMNM, chẩn đoán phân biệt VMNM và VMNVR, giúp đưa ra quyết định sử dụng kháng sinh kịp thời và theo dõi đáp ứng điều trị VMNM [7], [9], [10].  

Mục tiêu

1.  Khảo sát nồng độ ngưỡng và độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính, âm tính của PCT/HT và DNT ở bệnh nhân VMNM và VMNVR.

2. Đánh giá đáp ứng điều trị VMNM qua theo dõi nồng độ PCT/HT và DNT.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân người lớn nhập viện tại khoa Y học nhiệt đới và khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Đà Nẵng được chẩn đoán xác định và điều trị VMNM hoặc VMNVR từ tháng 4/2013 đến 7/2014 đều được làm xét nghiệm đồng thời PCT/HT và PCT/DNT ngay từ lúc nhập viện. Bệnh nhân VMNM được xét nghiệm lần 2 sau 72 giờ và lần 3 trước lúc ra viện.

Nhóm chứng: Chọn 81 người khỏe mạnh, có độ tuổi tương ứng với nhóm bệnh, tự nguyện xét nghiệm PCT/HT, từ tháng 4/2013 đến 7/2014.

2.2.  Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu  và mô tả ngang

Lấy máu và DNT lúc mới vào viện có chẩn đoán sơ bộ là VMN để định lượng nồng độ PCT/HT và PCT/DNT. Với bệnh nhân VMNM định lượng nồng độ PCT/HT và PCT/DNT lần 2 sau 72 giờ và lần 3 trước khi ra viện. Xét nghiệm được tiến hành trên máy miễn dịch tự động Cobas E601 tại khoa Sinh hóa Bệnh viện Đà Nẵng.

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Khảo sát nồng độ của PCT/HT và PCT/DNT

3.1.1.Nồng độ PCT/HT và PCT/DNT nhóm VMN và PCT/HT nhóm chứng

           Bảng 1. Nồng độ PCT/HT nhóm VMN và nhóm chứng


           Trong VMNM, nồng độ PCT/HT ≥ 0,5ng/ml chiếm 92,3%.Trong khi ở VMNVR 94,7% bệnh nhân có nồng độ PCT/HT < 0,5ng/ml. Tần suất xuất hiện bệnh VMNM rất cao khi nồng độ PCT/HT tăng cao, điều này chứng tỏ có mối liên quan giữa VMNM với nồng độ PCT/HT. Nồng độ PCT/HT ở nhóm chứng rất thấp (0,04±0,01ng/ml), khi có nhiễm khuẩn PCT mới được tổng hợp và đi vào tuần hoàn và dịch cơ thể [1]. Nồng độ PCT/HT tăng dần theo mức độ nhiễm khuẩn, khi  tình trạng nhiễm khuẩn giảm thì PCT/HT giảm và sẽ trở về bình thường khi hết nhiễm khuẩn. Do đó PCT có giá trị trong chẩn đoán và theo dõi bệnh nhiễm khuẩn, được xem như là một chất chỉ điểm sinh học của bệnh lý nhiễm khuẩn [1], [8]. Nồng độ trung bình PCT/HT ở nhóm VMNM là: 6,38 ± 5,62 ng/ml cao hơn nhóm VMNVR: 0,15 ± 0,19ng/ml, cao gấp 42 lần, cao hơn nhóm chứng: 0,04±0,01ng/ml gấp 159 lần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Điều này cho thấy PCT/HT có thể phân biệt được VMNM và VMNVR, nhận định này phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả khác [2], [6].

          Bảng 2. Nồng độ PCT/DNT nhóm VMN


Trong nghiên cứu của chúng tôi có 69,2% bệnh nhân VMNM có PCT/DNT ≥ 0,5 ng/ml, trong khi có 100% bệnh nhân VMNVR có PCT/DNT < 0,5 ng/ml. Như vậy trong VMNVR  nồng độ PCT rất thấp cả trong HT và DNT [7].

Nồng độ trung bình PCT/DNT ở nhóm VMNM là: 1,07 ± 1,10 ng/ml cao hơn nhóm VMNVR: 0,12 ± 0,05 ng/ml, cao gấp 9 lẩn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01), tương tự với công bố của một số tác giả [2], [5]. So sánh nồng độ PCT/HT và PCT/DNT trong cùng nhóm VMN, nhận thấy: nhóm VMNM có PCT/HT (6,38 ± 5,62 ng/ml) cao gấp 6 lần so với PCT/DNT (1,07 ± 1,10 ng/ml). Trong khi đó không có sự chênh lệch giữa nồng độ PCT/HT (0,15 ± 0,19ng/ml) và PCT/DNT( 0,12 ± 0,05ng/ml) ở nhóm VMNVR. Như vậy nồng độ PCT/HT tăng rõ rệt hơn PCT/DNT ở nhóm VMNM, điều này rất lợi ích trong đánh giá đáp ứng điều trị VMNM qua theo dõi nồng độ PCT/HT.

 Với n=39, r = 0,713, p < 0,01, phương trình hồi quy y = 0,139x + 0,179 , PCT/HT và PCT/DNT ở bệnh nhân VMNM có tương quan thuận mức độ chặt chẽ.

 3.1.2. Đường cong ROC xác định nồng độ ngưỡng PCT/HT và PCT/DNT

3.1.2.1. Đường cong ROC và độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính và âm tính PCT/HT

Biểu đồ 1. Đường cong ROC giữa PCT/HT ở bệnh nhân VMNM và VMNVR

 

PCT/HT ở ngưỡng > 0,5 ng/ml đạt giá trị chẩn đoán tối ưu VMNM, độ nhạy: 92,3 (79,1- 98,3), độ đặc hiệu: 97,4 (86,1- 99,6), giá trị tiên đoán (+): 97,3, giá trị tiên đoán (-): 92,5. Diện tích dưới đường cong ROC: 0,978, giá trị tiên đoán có ý nghĩa thống kê (P<0,001).

3.1.2.2. Đường cong ROC và độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính, âm tính của PCT/DNT

Biểu đồ 2. Đường cong ROC giữa PCT/DNT ở bệnh nhân VMNM và VMNVR

 

 

Với ngưỡng PCT/DNT > 0,24 ng/ml đạt giá trị chẩn đoán tối ưu VMNM có độ nhạy: 79,5 (63,5 - 90,7), độ đặc hiệu: 100,0 (90,7 - 100,0), giá trị tiên đoán (+): 96,9, giá trị tiên đoán (-): 82,2. Diện tích dưới đường cong ROC: 0,929, giá trị tiên đoán có ý nghĩa thống kê (P<0,001).

3.2. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VMNM QUA THEO DÕI NỒNG ĐỘ PCT/HT và PCT/DNT

3.2.1 Đánh giá kết quả điều trị VMNM và diễn tiến nồng độ PCT/HT và DNT     
Bảng 3.
Diễn tiến nồng độ PCT/HT bệnh nhân VMNM theo thời gian và mức độ đáp ứng điều trị         Có sự giảm dần nồng độ PCT/HT qua 3 lần xét nghiệm và trở về gần bình thường (6,36±4,90; 1,47±2,12; 0,11±0,06 ng/ml) ở nhóm ra viện, hồi phục hoàn toàn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Kết quả này tương tự nghiên cứu của các tác giả , [2], [3], [4], [10].

Bảng 4. Diễn tiến nồng độ PCT/DNT bệnh nhân VMNM theo thời gian và mức độ đáp ứng điiều trị

 

 

      Có sự thay đổi nồng độ PCT/DNT qua 3 lần xét nghiệm và có nồng độ rất thấp trước khi ra viện (1,09±0,99; 0,34±0,35; 0,09±0,03 ng/ml) trong nhóm hồi phục hoàn toàn, ra viện, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001).

Như vậy theo dõi nồng độ PCT/HT và PCT/DNT trong quá trình điều trị VMNM rất có giá trị để đánh giá đáp ứng điều trị.

 

4.KẾT LUẬN

-         Nồng độ PCT/HT và PCT/DNT rất có giá trị phân biệt giữa VMNM và VMNVR.

-         Theo dõi nồng độ PCT/HT và PCT/DNT  có giá trị để đánh giá đáp ứng điều trị ở bệnh nhân VMNM.

 

 

*Bệnh viện Đà Nẵng

**Bộ môn Nội-ĐH Y Dược Huế

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

  1. Lê Xuân Trường (2013), “Procalcitonin”, Những xét nghiệm hóa sinh hiện đại sử dụng trong lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, tr. 1-16.
  2. Cao Thị Vân (2010), Giá trị tiên đoán của Procalcitonin trong huyết thanh và dịch não tủy ở bệnh nhân viêm màng não mủ, Luận văn Thạc sỹ Y học chuyên ngành Y học hình thái, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiếng Anh                                                                                                                               

  1. Alavi S M, Shokri S (2012), Can serum procalcitonin measurement help monitor the treatment of acute bacterial meningitis Aprospective study, Caspian J Intern Med, 3(1), pp. 382-385.
  2. Alkholi U M, Al-monem N A, Azim A A, Sultan M H (2011), Serum procalcitonin in viral and bacterial meningitis, Glob Infect Dis, 3(1),
    pp. 14-18.
  3. Ernst Adrea, Sphingo T G (2010) Procalcitonin, Medregional Proenkephalin A and N-terminal protachy Kinin A in cerebrospinal fluid to differentiate bacterial from viral meningitis, http:/www.ici-diagnostic.com.
  4. Jereb M, Muzlovic I, Hojker S, Strle F (2001), Predictive value of serum and cerebrospinal fluid procalcitonin level for the diagnosis of bacterial meningitis, Infection, 29(4), pp. 209-212.
  5. Makoo Z B, Soltani H R, Hasani A et al (2010), Diagnostic value of serum and cerebrospinal fluid procalcitonin in differentiation bacterial from aseptic meningitis, American Journal of Infectious Disease,6(4), 
  6. pp. 93-97.
  7. Meisner M (2010), “Procalcitonin - Biochemistry and Clinical Diagnosis”, UNI-MED Verlag AG, Bremen-London-Boston, pp. 9-16, 40-51, 65-78.
  8. Meisner M (2002), “Pathobiochemistry and clinical use of procalcitonin”, Clinica Acta, 323, pp. 17-29.
  9. Sherkatolabbasieh H R, Zare M E, Kansestani A N et al (2013), Serum procalcitonin level and other biological markers in children with bacterial or non-bacterial meningitis, Journal of Paramedical Science (JPS), 4(4), pp. 2008-4978.

Các bản tin khác :