CHỌC HÚT VÀ BƠM CỒN TUYỆT ĐỐI TRONG ĐIỀU TRỊ NANG GAN ĐƠN THUẦN


CHỌC HÚT VÀ BƠM CỒN TUYỆT ĐỐI TRONG ĐIỀU TRỊ NANG GAN ĐƠN THUẦN

Bs. CK. I Nguyễn Thị Thanh Hà, Ths. Bs. Đoàn Hiếu Trung

 

I. Sơ lược về nang gan:

          Nang gan đơn thuần (simple liver cyst) thường do bẩm sinh và chiếm tỷ lệ khoảng 2,5-4,25%[1,2], tăng theo tuổi. Tỷ lệ nam/nữ là 2/3 [2,5]. Nang gan được chia thành 2 loại là nang gan thật sự và giả nang, phụ thuộc vào sự hiện diện biểu mô lót của nang. Nang thực sự bao gồm các nang: nang bẩm sinh (bệnh đơn hoặc đa nang gan), nang ký sinh trùng (nang nước) gây ra bởi Echinococcus granulosis và các loại sán dây Multilocularis, các nang ung thư ( ung thư biểu môn tuyến dạng nang, các adenoma dạng nang, các sarcoma dạng nang,…) và các nang liên quan đến đường mật ( bệnh Caroli, các nang đường mật,..). Các giả nang có thể gây ra do những xuất huyết trong gan tự phát, các tụ máu hoặc tụ mật sau chấn thương[1,7].

          Sinh bệnh học của nang gan chưa được rõ. Các nang gan đơn độc là do bẩm sinh, thường có kích thước trung bình 1-3 cm, nhưng một số trường hợp nang gan có thể phát triển đạt kích thước 20cm. Chúng liên quan đến biểu mô trụ và có nguồn gốc phát sinh từ các ống dẫn mật bất thường xuất phát từ đường mật chính trong gan trong thời kỳ bào thai[1].

          Nang gan đơn thuần là bệnh lý lành tính, thường  kích thước ổn định theo thời gian và phần lớn các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng chiếm 90%[5], không cần điều trị. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nang gan lớn, có nguy cơ vỡ, chảy máu hoặc bội nhiễm, áp xe hóa hoặc ung thư hóa thì cần được điều trị can thiệp[1,2]. Một trong những biện pháp điều trị đơn giản và hiệu quả hiện nay là chọc hút và tiêm xơ bằng cồn tuyệt đối vào nang gan, gây xơ hóa lớp tế bào lót ở thành nang để làm giảm hoặc ngưng xuất tiết dịch trở lại vào nang[3].

II. Chẩn đoán nang gan:

2.1. Lâm sàng:

Ít có triệu chứng trên lâm sàng, thường triệu chứng xuất hiện khi đã có biến chứng như nang lớn chèn ép, xuất huyết nội nang, bội nhiễm hoặc áp xe hóa,..triệu chứng hay gặp là đau tức hạ sườn phải, sốt,..

2.2. Cận lâm sàng:

          - Siêu âm là lựa chọn đầu tiên trong chẩn đoán và đánh giá nang gan.

          - Chụp CLVT đánh giá các nang lớn, không điển hình hoặc đánh giá tổn thương đi kèm.


* Bảng 1: Các đặc tính của nang gan trên chẩn đoán hình ảnh[1,3,4,5,6]:
 

III. Kỹ thuật tiến hành:

3.1. Chọn bệnh nhân:

Tất cả bệnh nhân nhập viện tại khoa nội tiêu hóa, được chẩn đoán nang gan đơn độc theo các tiêu chuẩn của siêu âm và CT Scanner gan đã nêu trong bảng 1. Loại trừ những bệnh nhân không hợp tác, những nang gan ở sát bao gan có nguy cơ dò dịch sau chọc hoặc những nang gan ở vị trí có nguy cơ như gần đường mật chính hoặc mạch máu lớn.

3.1. Phương tiện điều trị:

Máy siêu âm đầu dò gắn bộ định vị hướng đi của kim chọc dò, kim và bơm tiêm 5ml, kim chọc dịch não tủy 21G (d = 0,9mm), cồn tuyệt đối 98%, lidocaine 10mg/ml.

3.2. Kỷ thuật chọc hút và tiêm cồn vào nang gan:

Đánh dấu điểm chọc kim, gây tê dưới sự hướng  dẫn  của siêu âm, chọc kim vào theo đường  ngắn và an toàn nhất dưới sự hướng dẫn của bộ định vị, hướng đầu kim vào vị trí trung tâm của nang, theo dõi đường kim vào. Khi đầu kim đã ở chính giữa nang, lắp bơm tiêm vào hút dịch trong nang ra theo dõi dưới siêu âm cho đến khi không còn khả năng hút được, sau đó tiến hành bơm cồn tuyệt đối vào. 
 

Hình ảnh minh họa chọc kim vào nang gan dưới hướng dẫn của siêu âm

Liều lượng cồn dự kiến mỗi lần tiêm: tùy thuộc kích thước nang, trung bình lượng cồn tiêm vào bằng 10-40% lượng dịch hút ra, nhưng không quá 100ml/mỗi lần bơm, vì lý do nhiều nghiên cứu thấy rằng có sự gia tăng nồng độ cồn thoáng qua trong máu sau khi bơm cồn vào nang gan. Vì vậy, lượng cồn bơm không được quá cao để tránh nguy cơ ngộ độc. Trung bình bơm vào hút ra từ 2-3 lần cách nhau khoảng 10 phút, sau đó tiến hành chọc hút hết cồn ra lại và theo dõi lâm sàng[3,6].

Tư thế bệnh nhân: bệnh nhân nằm ngữa 2 chân duỗi thẳng và 2 tay đưa cao lên đầu. Sau khi tiêm cồn vào cần phải thay đổi tư thế bệnh nhân một cách nhẹ nhàng và từ từ, từ nằm ngữa sang nằm sấp và từ cùng chiều sang ngược chiều kim đồng hồ. Kết thúc thủ thuật bệnh nhân phải nằm tại giường nghiêng về phía bên phải từ 2 đến 4 giờ. Tất cả bệnh nhân phải nằm viện để theo dõi ít nhất 24 giờ, sau đó có thể có thể xuất viện nếu không có triệu chứng gì đặc biệt[4,6].

IV. Kết quả điều trị chọc hút và tiêm xơ nang gan trên thế giới và tại Việt Nam:

4.1. Các tác giả trên thế giới:

Bảng 2:  Tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới về điều trị đơn nang gan bằng chọc hút và tiêm xơ với cồn tuyệt đối [3].
 

Ghi chú: ĐN: đơn nang; NS: không nghi nhận; KT: kích thước.
4.2. Tại Việt Nam:

Nhiều nơi đã thực hiện chọc hút và tiêm xơ nang gan, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố HCM, nhưng chưa thấy có nghiên cứu nào chính thức được công bố.

Tại Bệnh Viên Đà nẵng: Chọc hút và tiêm xơ nang gan đơn thuần là kỷ thuật khá mới chưa được triển khai tại khoa Nội tiêu hóa những năm trước đây. Được sự giúp đở của PGS.TS. Đào Văn Long, đã chuyển giao kỷ thuật cho khoa Nội tiêu hóa vào tháng 8/2012 và chúng tôi cũng đã thực hiện chọc hút được 1 trường hợp. Trong thời gian sắp đến, chúng tôi sẽ trình cho Ban Giám Đốc, Hội đồng khoa học Bệnh viện và phối hợp với các khoa có liên quan để áp dụng rộng rãi hơn trong điều trị nang gan đơn thuần. Đây là 1 kỷ thuật khá đơn giản, ít tốn kém và xâm nhập tối thiểu cho bệnh nhân. Nhiều nghiên cứu của các tác giã trên thế giới, thấy rằng hiệu quả tiêm xơ bằng cồn tuyệt đối đem lại kết quả tương tự dẫn lưu dịch quan nội soi ổ bụng và ít có biến chứng hơn[4].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Wojciech C Blonski, Mical S Campbell et al (2006), “Successful aspiration and ethanol sclerosis of a large, symptomatic, simple liver cyst: Case presentation and review of the literature”,  World J Gastroenterol  2006 May 14; 12(18): 2949-2954.
  2. Patrick  PESSAUX, “Diagnostic des kystes et polykystoses hépatiques et orientations thérapeutiques”; service de Chirurgie Viscérale, CHU Angers, France.
  3. K Moorthy, N Mihssin, PWJ Houghton et al (2001), “The management of simple hepatic cysts: sclerotherapy or laparoscopic fenestration”, Ann R Coll Surg Engl 2001; 83:409-414.
  4. Trond Bjerke Larssen (2006), “hepatic cysts: Occurrence and effect of single-session alcohol sclerotherapy”, section for radiology, department of surgical sciences university of bergen-Norway.
  5. Jorge L. Herrera, MD (2009), “Management of Hepatic Cysts”, Gastroenterology & Hepatology  5(6): 414-416.
  6. Adib R. Karam*¹, Caitlin Connolly et al (2011), “Alcohol sclerosis of a giant liver cyst following failed deroofings”, Radiology Case. 2011 Feb; 5(2):19-22.
  7. Behroze Vachha1, Maryellen R. M. Sun et al(2011), “Cystic Lesions of the Liver”, American Journal of Roentgenology,196: w355-w366.

 

Các bản tin khác :