CASE REPORT: U PHYLLODE KHỔNG LỒ


1. Tóm tắt:

U phyllode là u đệm tế bào ngoại vi ống tuyến vú,do Johanners Muller phát hiện đầu tiên năm 1838, lấy tên theo chữ Hy Lạp cổ “Phullon”(chiếc lá) vì hình ảnh vi thể của u có dạng phiến lá.

Đây là dạng u ít gặp, chiếm tỉ lệ 0.3% các loại u vú, gồm 3 loại: u diệp thể lành tính( 60 – 70%), giáp biên(10%), ác tính(20%).Đặc điểm nổi bật là u có thể có kích thước lớn, dễ tái phát dù lành tính.

2. Báo cáo trường hợp:

-     Bệnh sử:

Bệnh nhân Phan Thị Ngọc O., Nữ, 34 tuổi. Địa chỉ: Hải Châu,TP. Đà Nẵng. Phát hiện có khối u vú Trái kích thước 2 x 3 cm vào tháng 12/2015,đã mổ bóc u tại BV tuyến quận.Tháng 5/2016, bệnh nhân thấy vú Trái to nhanh nên khám và vào viện.

-     Quá trình điều trị:

Sinh hiệu ổn định. Bệnh nhân van khó thở,đau ngực Trái

Thăm khám: Ngực (T) kích thước# 190 x 180 mm,da căng bóng,mật độ chắc,ghồ ghề. Hạch nách 2 bên (-), hạch dưới đòn(-). Tim nhịp đều,phổi không nghe rales.

Cận lâm sàng:

+ MRI và PET/CT : U vú (T) lớn,khả năng u Phyllode, tăng hấp thu FDG. Vài hạch nhỏ nách (T) không tăng hấp thu FDG. Chưa thấy tổn thương ở vị trí khác.

+ Chọc hút tế bào FNA trước mổ: hình ảnh nghĩ đến u Phyllode

  

-    Phẫu thuật:

Bệnh nhân được hội chẩn viện, lên lịch mổ chương trình với ê kíp mổ gồm các bác sỹ khoa Phụ sản, Ung bướu và Bỏng- Tạo hình; với phương pháp mổ cắt trọn u, đảm bảo rìa an toàn cách bướu 2cm, chuyển vạt da.

Kết quả sau cuộc phẫu thuật, lấy ra khối u vú nặng 5kg, chưa có dấu hiệu xâm lấn cơ thành ngực. Kết quả sinh thiết sau mổ: U phyllode độ 2.


 

Sau 7 ngày hậu phẫu,vết thương được nuôi dưỡng tốt, bệnh nhân đã xuất viện.

Hướng điều trị tiếp theo: tái khám sau 1 tuần,theo dõi và điều trị theo phác đồ.

 

Khoa Phụ sản- BV Đà Nẵng

                                                                                                                                                                                                                 30/6/2016

Các bản tin khác :