KHOA GIẢI PHẪU BỆNH

I.Lịch sử phát triển:


Khoa Giải phẫu bệnh được thành lập tháng 1 năm 1976, trong ngày đầu mới thành lập khoa được sự giúp đỡ nhiều mặt của Bệnh Viện E Hà Nội


Các trưởng khoa qua các thời kỳ:  


- Bs Lê Văn Cung: Trưởng Khoa từ 1976-1998

- BSCK1 Phan Ngữ: Phụ trách khoa từ 1998-2004

- BSCK1 Nguyễn Hữu Mạnh  Hiện nay

      TRƯỞNG KHOA
BS CKI - NGUYỄN HỮU MẠNH


II.Tổ chức nhân sự:


1.Cơ cấu tổ chức: Tổng số nhân viên: 11
Trong đó: 2 Thạc sỹ, 1 Bác sỹ Chuyên khoa 1, 2 Bác sỹ Chuyên khoa GPB, 2 Cử nhân Y học, 1 Điều dưỡng chính Y,  2 Kỹ thuật viên chính Y , 1 Nhân viên y tế.

2.Cơ sở vật chất: Trang thiết bị:  

- Kính hiển vi hội chẩn 3 đầu có gắn camera chụp hình nối hệ thống vi tính để in trả kết quả có ảnh chụp vi thể và hội chẩn qua mạng với các trung tâm lớn trong nước và trên thế giới (như ILS Hoa Kỳ…)
- Máy xử lý mô tự động
- Máy cắt lạnh (trả kết quả bệnh phẩm phẫu thuật trong vòng 30 phút)
- Các trang thiết bị của các phương pháp nhuộm đặc biệt (chẩn đoán gián biệt một số bệnh khó…)

III. Hoạt động chuyên môn và thành tựu đạt được:

1. Về chẩn đoán xác định bệnh:

1.1 Chẩn đoán tế bào học:

Là kỹ thuật đơn giản thực hiện tại phòng khám, nhanh (kết quả có trong vòng 30 phút), ít tai biến, cho kết quả chính xác về chẩn đoán định hướng và quyết định cho điều trị như phát hiện ung thư giai đoạn sớm, các u lành tính…
 
- Chọc hút nhộm chẩn đoán tế bào học tất cả các tổn thương sờ thấy được hoặc không sờ thấy được như các tổn thương u, bướu, hạch của tất cả các cơ quan ; trực tiếp làm thủ thuật chọc hút và chẩn đoán tế bào học các tổn thương ở các tạng sâu trong lồng ngực và ổ bụng như chọc tổn thương ở gan, phổi, thận, trung thất, u sau phúc mạc, tụy v.v…dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc DSA. Nhờ phát triển kỹ thuật này mà khoa đã đáp ứng được yêu cầu cao trong chẩn đoán xác định bệnh phục vụ cho công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân

- Chẩn đoán tế bào học của tế bào bong như: Tế bào dịch các khoang cơ thể, tế bào các hốc tự nhiên: miệng, âm đạo, cổ tử cung ( Pap’smear ), dịch chải rửa phế quản, dịch tiết núm vú ; kỹ thuật đúc khối tế bào (cellblock). Hai loại hình chẩn
đoán tế bào học nêu trên đều có thể áp dụng rộng rãi để sàng lọc bệnh tại cộng đồng nhất là ung thư 

        
1.2: Chẩn đoán mô bệnh học:

Là kỹ thuật chẩn đoán xác định bệnh qua các bệnh phẩm phẫu thuật (tiêu chuẩn vàng của chẩn đoán bệnh).

Các bệnh phẩm sau khi phẫu thuật sẽ được cắt lọc lấy mẫu xử lý qua quá trình cố định tế bào và cấu trúc mô. Sau đó được cắt mỏng thành các lát cắt dày khoảng 2μm, nhuộm màu và quan sát dưới kính hiển vi để xác định bản chất của tổn thương về mặt tổn thương tế bào (tổn thương ở mức độ nhân và bào tương tế bào) của mô bệnh, qua đó sẽ cho chẩn đoán chính xác bệnh để quyết định điểu trị triệt để tiếp theo sau khi phẫu thuật.

 

2. Kết quả đạt được:

Xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học với gần 6.000 phiếu chẩn đoán giải phẫu bệnh / năm.Chẩn đoán tế bào bệnh học hơn 5000 phiếu chẩn đoán /năm. Nghiên cứu khoa học và giảng dạy: có 1 công trình nghiên cứu cấp bộ: Nghiên cứu mối liên quan giữa ARN với ung thư cổ tử cung. Tham gia giảng dạy cho sinh viên Trường Cao Đẳng Y Tế TW2. Thường xuyên tiến hành nghiên cứu khoa học. Hợp tác quốc tế: Quan hệ hợp tác ILS Hoa Kỳ nghiên cứu di truyền trong ung thư

IV. Hướng phát triển:

Tiếp tục nâng cao chất lượng tiêu bản và chất lượng chẩn đoán.
Sử dụng và bảo quản tốt các máy móc cho các khâu: cố định, đúc, cắt bệnh phẩm và nhuộm tiêu bản để có chẩn đoán giải phẫu bệnh nhanh chóng và chính xác.
Khởi động lại sinh thiết tức thì, Triển khai phương pháp sinh thiết lõi bằng kim sinh thiết dưới siêu âm, DSA hoặc CT Scanner để lấy mẩu chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học; Triển khai phương pháp hoá mô miễn dịch vào chẩn đoán giải phẫu bệnh thường quy.
Chẩn đoán giải phẫu bệnh trong ghép tạng (thận, gan,. ..) Tiếp tục mở rộng hợp tác quan hệ với ILS Hoa Kỳ và các nước khác để trao đổi và học hỏi kinh nghiệm