Thông tin thuốc số 09/2013


HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC AN TOÀN HỢP LÝ 

TỔN THƯƠNG GAN DO THUỐC

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Tổn thương gan do thuốc thường có liên quan đến việc sử dụng phối hợp nhiều loại thuốc, bao gồm các thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn và các thuốc hỗ trợ. Do đó, đây là một thách thức trong chẩn đoán và quản lý việc sử dụng thuốc đối với các cán bộ y tế. Việc phát hiện sớm nguy cơ này có vai trò quan trọng để góp phần giảm thiểu những tổn thương như vậy.

Vì tổn thương gan do thuốc không phải là một tổn thương bệnh lý đặc trưng nên khi chẩn đoán thường bị loại trừ, tuy nhiên, nên đưa nó vào chẩn đoán phân biệt ở những bệnh nhân có bệnh gan mới khởi phát và ở những bệnh nhân mà tình trạng bệnh gan đang mắc phải trở nên xấu hơn sau khi gần đây có sử dụng thuốc.

Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm gan siêu vi, viêm gan do rượu, rối loạn tự miễn, tắc nghẽn gan do suy tim, tổn thương gan do sốc hoặc nhiễm trùng huyết và rối loạn đường mật.  Những bệnh gan thâm nhiễm hiếm gặp hơn, ví dụ như haemochromatosis (trong gan có chứa nhiều sắt) và bệnhWilson, cũng có thể yêu cầu loại trừ.

Xác định nguyên nhân tổn thương gan thường phức tạp, vì các triệu chứng ban đầu có thể không đặc hiệu, ngày bắt đầu dùng thuốc có thể không được xác định rõ ràng và bối cảnh lâm sàng có thể bị lẫn lộn bởi các quá trình bệnh lý cơ bản. Tổn thương gan do thuốc thường xảy ra thông qua hai cơ chế, hoặc là do ảnh hưởng hóa sinh trực tiếp hoặc là do sự kích thích của một đáp ứng miễn dịch bởi độc tính của thuốc hoặc bởi sự chuyển hóa.

Bảng dưới đây là một số ví dụ về các loại thuốc thường gây tăng men gan. Các loại thuốc này cũng được xếp vào danh sách các thuốc có liên quan nhiều nhất đối với suy gan cấp do thuốc. Cần thận trọng và theo dõi thường xuyên chức năng gan khi sử dụng phối hợp hai hay nhiều thuốc gây suy gan cấp trên những bệnh nhân dễ bị tổn thương, chẳng hạn như người cao tuổi, những người dùng nhiều thuốc, những người thiếu máu cục bộ gan tiềm ẩn hay những người đang mắc phải bệnh gan.

Thời gian tiềm ẩn có thể ngắn (vài giờ đến vài ngày), trung bình (1-8 tuần), hoặc kéo dài (1-12 tháng hoặc hơn). Trong những trường hợp hiếm gặp, phản ứng có thể xảy ra sau khi đã ngưng dùng thuốc.

Mô hình bất thường

Các thuốc có liên quan

Tế bào gan

-        Kháng sinh: isoniazid, rifampicin

-        Kháng nấm: ketoconazole, itraconazole, fluconazole

-        Kháng virus: zidovudine, didanosine, nevirapine, ritonavir, indinavir

-        Chống co giật: phenytoin, carbamazepine, sodium valproate, phenobarbitone

-        Điều trị tăng huyết áp: captopril, enalapril, lisinopril, losartan

-       Chống trầm cảm: amitriptyline, imipramine, trazodone, venlafaxine, fluoxetine, paroxetine, duloxetine, sertraline, bupropion

-        Kháng viêm: ibuprofen, indomethacin, diclofenac, sulindac

Statin

Viêm gan hỗn hợp/ ứ mật

-        Kháng sinh: amoxicillin/clavulanic acid, trimethoprim/ sulfamethoxazole, clindamycin

-        Ức chế miễn dịch: azathioprine

Ứ mật

-        Kháng sinh: erythromycin, nitrofurantoin, rifampicin, amoxycillin/clavulanic acid

-        Chống trầm cảm: duloxetine, mirtazapine, chống trầm cảm ba vòng

-        Chống kết tập tiểu cầu: clopidogrel

Chẩn đoán:

Alanine transferase (ALT) và alkaline phosphatase (APT) thường được xem là những xét nghiệm chức năng gan hữu ích nhất để xác định loại tổn thương gan. Mặc dù có độ nhạy cao nhưng chúng lại có độ đặc hiệu thấp trong việc dự đoán nhiễm độc gan nghiêm trọng.

Khi giá trị ALT trong giới hạn tham khảo ở mức cơ bản và tăng lên gấp
2-3 lần thì nên tăng cường cảnh giác trong việc giám sát bệnh nhân thường xuyên hơn. Khi giá trị ALT cao hơn so với giới hạn tham khảo 4-5 lần trở lên thì nên ngưng sử dụng thuốc nghi ngờ gây ra tổn thương gan.

Khi lượng bilirubin cao gấp đôi giá trị bình thường, kèm theo sự gia tăng gấp 3 lần ALT trở lên cho thấy có nguy cơ xảy ra tổn thương gan nghiêm trọng và cần phải xem lại việc dùng thuốc. Nếu một thuốc bị nghi ngờ là tác nhân gây bệnh thì cần phải ngưng ngay.

Điều trị:

Điều trị tổn thương gan do thuốc phần lớn là điều trị hỗ trợ. Hầu hết các cách giải quyết là ngưng các tác nhân gây bệnh. Trong khi thời gian để phục hồi có thể mất vài ngày đến một tuần, thậm chí có những trường hợp chỉ cải thiện sau khi đã ngưng thuốc từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Trong những trường hợp rất hiếm, tổn thương gan là vĩnh viễn và việc ghép gan là cần thiết.

Loại thuốc nghi ngờ gây ra tổn thương gan thường được khuyến cáo là không nên sử dụng lại, vì phản ứng tiếp theo đó có thể nghiêm trọng hơn so với lần đầu, nhất là khi liên quan đến các phản ứng quá mẫn. Trong trường hợp môt số loại thuốc cần phải sử dụng lặp lại, cần phải xem xét kỹ càng các khuyến cáo về thuốc đó kết hợp theo dõi bệnh nhân cẩn thận.

 

Nguồn: http://www.tga.gov.au 

 

GIẢM THIỂU NGUY CƠ XUẤT HUYẾT TỦY SỐNG VÀ TÊ LIỆT Ở NHỮNG BỆNH NHÂN SỬ DỤNG HEPARIN TRỌNG LƯỢNG PHÂN TỬ THẤP 

DSĐH. Ngô Thị Kim Loan

Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) khuyến cáo các cán bộ y tế nên xem xét một cách cẩn thận về thời điểm đặt hoặc rút catheter tủy sống ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông, ví dụ như enoxaparin, và tạm ngừng một vài liều thuốc chống đông sau khi rút catheter để giảm nguy cơ chảy máu tủy sống và tê liệt ngay sau khi tiêm tủy sống, bao gồm các thủ thuật ngoài màng cứng hay chọc dò tủy sống. Những khuyến cáo mới này sẽ được thêm vào nhãn của các thuốc chống đông heparin trọng lượng phân tử thấp, như Lovenox® và các sản phẩm generic của enoxaparin cũng như các sản phẩm tương tự.

Các cán bộ y tế và các cơ sở y tế có thực hiện các thủ thuật như gây tê tủy sống/ngoài màng cứng hay chọc dò tủy sống nên xác định xem bệnh nhân có hay không đang sử dụng các thuốc chống đông và xác định thời điểm thích hợp về việc sử dụng enoxaparin với việc đặt hay rút catheter. Để giảm thiểu nguy cơ chảy máu tiềm ẩn, nên xem xét đồng thời cả về liều và thời gian thải trừ của thuốc chống đông:

  • Đối với enoxaprin, việc đặt hay rút catheter tủy sống nên được trì hoãn ít nhất 12 giờ sau khi chỉ định liều dự phòng thuốc chống đông để ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu. Những trì hoãn lâu hơn (24 giờ) nên được xem xét thích hợp ở những bệnh nhân sử dụng chế độ điều trị liều cao của enoxaparin (1mg/kg hai lần mỗi ngày hoặc 1,5mg/kg một lần mỗi ngày).
  • Liều enoxaparin tiếp theo được chỉ định thường không sớm hơn 4 giờ sau khi rút catheter.
  • Trong tất cả các trường hợp, việc đánh giá giữa lợi ích và nguy cơ nên cân nhắc về nguy cơ tạo huyết khối cũng như nguy cơ chảy máu trong lúc làm thủ thuật và trên các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân.

Tụ máu ngoài màng cứng hoặt tủy sống là một nguy cơ đã được biết đến của enoxaprin khi có thực hiện các thủ thuật tủy sống và đã được ghi nhận trong phần Cảnh báo và Thận trọng trên nhãn của Lovenox® và các sản phẩm generic của enoxaparin. Tuy nhiên, những phản ứng bất lợi nghiêm trọng này vẫn xảy ra.

Trước khi thực hiện thủ thuật ngoài màng cứng hoặc tủy sống, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ về các loại thuốc chống đông mà họ đang sử dụng. Trong khi thực hiện những thủ thuật này, bệnh nhân nên báo ngay với bác sĩ nếu có bất kì triệu chứng nào chẳng hạn như tê, cảm giác kiến bò, yếu chân hay tê liệt, hoặc mất kiểm soát vùng bàng quang hoặc ruột.

 

Nguồn: http://www.fda.gov


CẢNH GIÁC DƯỢC

 

KHUYẾN CÁO MỚI CỦA EMA ĐỐI VỚI
NICARDIPIN ĐƯỜNG TIÊM TĨNH MẠCH

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Dựa trên đánh giá của Cơ quan quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA) về lợi ích và nguy cơ của thuốc nicardipin đường tiêm tĩnh mạch, vào ngày 25/10/2013, Ủy ban về Sản phẩm y tế sử dụng trên người (CHMP) đã đưa ra kết luận về việc nicardipin đường tiêm tĩnh mạch chỉ nên sử dụng để điều trị tăng huyết áp cấp tính gây đe dọa tính mạng và kiểm soát huyết áp cao sau phẫu thuật. Việc sử dụng nicardipin trong những chỉ định khác không còn được khuyến cáo.

CHMP cũng khuyến cáo rằng thuốc này khi dùng bằng đường truyền tĩnh mạch liên tục chỉ nên được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa trong bệnh viện hoặc tại đơn vị hồi sức tích cực.

Đối với các cán bộ y tế, EMA đưa ra các thông tin cập nhật về việc kê đơn đối với thuốc nicardipin đường tiêm tĩnh mạch, cụ thể là các chỉ định được khuyến cáo của nicardipin đường tĩnh mạch, bao gồm:

-         Điều trị tăng huyết áp cấp tính gây đe doạ tính mạng, đặc biệt trong các trường hợp:

  • Tăng huyết áp động mạch ác tính hay bệnh não do tăng huyết áp;
  • Tách thành động mạch chủ (aortic dissection), trong trường hợp các thuốc ức chế thụ thể beta tác dụng ngắn không còn phù hợp, hoặc dùng phối hợp với thuốc ức chế thụ thể beta khi thuốc ức chế thụ thể beta đơn độc không hiệu quả;
  • Chứng tiền sản giật nghiêm trọng (severe pre-eclampsia), trong trường hợp các thuốc điều trị tăng huyết áp đường tĩnh mạch khác không được khuyến cáo hoặc chống chỉ định.

-         Điều trị tăng huyết áp sau phẫu thuật.

Nicardipin trước đây cũng được sử dụng tại một số nước Châu Âu đối với các trường hơp huyết áp thấp đã được kiểm soát trong quá trình gây mê, đối với tình trạng tăng huyết áp đang được kiểm soát trong quá trình phẫu thuật và trong điều trị tăng huyết áp cấp tính nghiêm trọng có sự mất bù thất trái kèm phù phổi. Tuy nhiên, thuốc không còn được khuyến cáo cho những chỉ định này vì những dữ liệu hiện có không đủ để hỗ trợ cho việc sử dụng.

Về đường dùng, nicardipin nên dùng đường truyền tĩnh mạch liên tục và chỉ nên được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa tại những cơ sở có thể kiểm soát tốt và phải theo dõi liên tục huyết áp của bệnh nhân.

Ở người lớn, nên bắt đầu điều trị bằng cách truyền liên tục nicardipin với tốc độ 3-5 mg/giờ. Tốc độ này sau đó có thể tăng lên nhưng không quá
15 mg/giờ. Khi đạt được mức huyết áp mong muốn, liều dùng của thuốc cần được giảm từ từ. Nicardipin cần được sử dụng thận trọng và với liều thấp trên một số đối tượng như bệnh nhân có các vần đề về gan, thận và với trẻ em.

 

Nguồn: http://www.ema.europa.eu

 

 

NGUY CƠ TỔN THƯƠNG THẬN KHI SỬ DỤNG ĐỒNG THỜI THUỐC CHẸN KÊNH CALCI VỚI CLARITHOMYCIN

ThS.DS. Đoàn Thị Minh Diệu

Theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí JAMA ngày 12/11/2013, khi dùng đồng thời thuốc chẹn kênh calci với kháng sinh clarithromycin ở những người lớn tuổi sẽ làm tăng nguy cơ nằm viện hơn 30 ngày vì tổn thương thận cấp. Nguy cơ này tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê.

Clarithromycin và erythromycin là hai kháng sinh được sử dụng phổ biến - có tác động ức chế enzyme CYP3A4 - trong khi đó azithromycin là kháng sinh cùng nhóm macrolid nhưng lại ít ức chế enzyme này hơn. Thuốc chẹn kênh calci được chuyển hóa qua CYP3A4, nên khi sử dụng đồng thời hai thuốc này, hoạt tính của enzyme CYP3A4 bị ức chế làm nồng độ của thuốc chẹn kênh calci trong máu sẽ gia tăng đến mức gây hại.

Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cảnh báo rằng phản ứng bất lợi nghiêm trọng này đã được báo cáo trên những bệnh nhân sử dụng đồng thời clarithromycin với các thuốc được chuyển hóa qua CYP3A4, trong đó nhóm thuốc hạ huyết áp chẹn kênh calci thường được kê đơn đồng thời với clarithromycin nhất.

Khi tình trạng tụt huyết áp xảy ra, thận sẽ bị tổn thương do tưới máu kém. Mặc dù biết rõ điều này nhưng nguy cơ tổn thương thận do việc kê đơn đồng thời clarithromycin và thuốc chẹn kênh calci vẫn chưa được biết đến.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát tương tác giữa thuốc chẹn kênh calci (amlodipine, felodipine, nifedipine, diltiazem hoặc verapamil) và kháng sinh clarithromycin (n = 96.226) so với azithromycin (n = 94.083) tập trung vào tình trạng tổn thương thận cấp ở những bệnh nhân lớn tuổi (trung bình 76 tuổi). Amlodipine là thuốc chẹn kênh calci được kê toa nhiều nhất (> 50% bệnh nhân).

Kết quả cho thấy nguy cơ nằm viện vì tổn thương thận cấp ở nhóm sử dụng đồng thời clarithromycin với thuốc chẹn kênh calci (0,44%) cao hơn so với nhóm sử dụng azithromycin chung với thuốc chẹn kênh calci (0,22%). Trong nhóm thuốc chẹn kênh calci, nguy cơ nằm viện vì tổn thương thận cấp cao nhất ở nhóm bệnh nhân sử dụng clarithromycin chung với nifedipine (mức độ tăng nguy cơ tuyệt đối là 0,63%). Việc kê đơn đồng thời thuốc chẹn kênh calci và clarithromycin cũng liên quan đến sự gia tăng nguy cơ nằm viện vì tụt huyết áp (0,12% so với 0,07%) và tử vong do tất cả các nguyên nhân (1,02% so với 0,59%).

Mặc dù mức độ tăng nguy cơ tuyệt đối là nhỏ nhưng đây là một kết quả có ý nghĩa lâm sàng quan trọng. Hàng trăm trường hợp nằm viện và tử vong ở khu vực được nghiên cứu có khả năng liên quan đến tương tác giữa các thuốc chẹn kênh calci và clarithromycin. Trong khi đó, tương tác thuốc – thuốc này hoàn toàn có thể phòng tránh được để giảm thiểu gánh nặng chi phí điều trị tổn thương thận cấp.

Để giảm nhẹ hậu quả lâm sàng do tương tác thuốc này mang lại, tùy từng trường hợp, giải pháp có thể là tạm thời ngưng sử dụng thuốc chẹn kênh calci trong quá trình điều trị bằng clarithromycin hay chọn một kháng sinh khác không hoặc ít ức chế CYP3A4 (ví dụ azithromycin).

 

Nguồn:  http://www.docguide.com


THÔNG TIN – ĐIỂM BÁO

 

FDA CHẤP THUẬN SỬ DỤNG SẮT CARBOXYMALTOSE CHO CÁC TRƯỜNG HỢP THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT

DSĐH. Lê Thị Thu Hiền

Tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 7,5 triệu người thiếu máu do thiếu sắt (IDA). Trước đây, cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chấp thuận sắt carboxymaltose đường tiêm (Injectafer®) để điều trị IDA, những điều trị này chủ yếu giới hạn trong các trường hợp IDA ở những bệnh nhân mắc bệnh thận mãn tính. Chế phẩm dạng tiêm được chấp thuận mới nhất này là dung dịch sắt tiêm tĩnh mạch đầu tiên ở dạng liều cao, không dextran ở Hoa Kỳ, được dùng để điều trị IDA một cách rộng rãi trong quần thể dân cư. Hiện tại, nó đã được cấp phép ở 46 quốc gia và có mặt trên thị trường ở 37 nước trên toàn thế giới.

FDA chấp thuận sắt carboxymaltose dạng tiêm để điều trị IDA ở người lớn không dung nạp hoặc không đáp ứng tốt với sắt đường uống.

Sự an toàn và hiệu quả của sắt carboxymaltose đường tiêm dùng điều trị IDA đã được đánh giá trong hai thử nghiệm lâm sàng tiến hành trên 11.000 bệnh nhân, trong đó thuốc được chỉ định ở liều 15 mg/kg cân nặng tới một liều đơn tối đa 750 mg của sắt, dùng cách nhau ít nhất 7 ngày.

Liều dùng và chỉ định:

Sắt carboxymaltose đường tiêm được phân phối ở dạng liều đơn
750 mg sắt/15 mL. Những bệnh nhân có cân nặng tối thiểu 50 kg nên được chỉ định 2 liều (mỗi liều 750 mg), được chia cách nhau ít nhất 7 ngày, tổng liều tích lũy lên tới 1500 mg sắt cho mỗi đợt điều trị. Những bệnh nhân dưới 50 kg nên được điều trị với liều 15 mg/kg cân nặng, cũng gồm 2 liều và chỉ định cách nhau ít nhất 7 ngày.

Nếu tình trạng IDA tái phát, sắt carboxymaltose đường tiêm có thể được chỉ định lặp lại.

 

Cảnh báo và thận trọng:

Sắt carboxymaltose đường tiêm chống chỉ định ở những bệnh nhân nhạy cảm với bất kì thành phần nào của thuốc.

Trong và sau khi sử dụng sắt carboxymatose đường tiêm, bệnh nhân nên được quan sát các dấu hiệu và triệu chứng của các phản ứng quá mẫn trong ít nhất 30 phút từ khi bắt đầu truyền và cho tới khi ổn định về mặt lâm sàng sau mỗi lần truyền xong.

Thận trọng khi sử dụng chế phẩm này cho phụ nữ đang cho con bú.

Buồn nôn, tụt huyết áp, đỏ ửng, giảm phosphate máu và buồn ngủ là những phản ứng bất lợi thường gặp, chiếm tỷ lệ khoảng 2% các bệnh nhân sử dụng thuốc này.

 

Nguồn: http://www.medscape.org

 

NGUY CƠ DỊ TẬT BẨM SINH KHI SỬ DỤNG FLUCONAZOLE ĐƯỜNG UỐNG TRONG THAI KỲ?

DSĐH. Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Các nghiên cứu trước đây trên mô hình động vật cũng như ở một số báo cáo ghi nhận được ở người đều cho rằng phụ nữ khi điều trị với fluconazole toàn thân (thường là đường uống) trong suốt thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh ở trẻ, cụ thể là khiếm khuyết ở tim hoặc sọ mặt. Tuy nhiên, các nghiên cứu thuần tập với sự tham gia của hơn 1000 thai phụ đã không thể chỉ ra được sự liên quan giữa hai yếu tố này.

Dưới đây là kết quả từ một nghiên cứu thuần tập ở trẻ em Đan Mạch sinh trong khoảng từ 1996 đến 2011, kết hợp với dữ liệu quốc gia của Đan mạch về sự ra đời của trẻ, kê đơn ở người mẹ và các chẩn đoán về dị tật ở trẻ sơ sinh. Các nhà điều tra đã xem xét sự phơi nhiễm trong suốt 3 tháng đầu thai kỳ ở mỗi thai phụ và ước tính liều tích lũy của fluconazole từ việc kê đơn. Một cơ sở dữ liệu bệnh nhân cấp quốc gia đã được sử dụng để xác định 15 dị tật bẩm sinh đặc thù, hầu hết là khiếm khuyết ở tim và sọ mặt. Phân tích dựa trên các yếu tố về thời gian, các đặc điểm về nhân khẩu học, kinh tế, xã hội, tiền sử thai sản của người mẹ, và thuốc sử dụng ở người mẹ.

Trong suốt thời gian tiến hành nghiên cứu, có tổng cộng 976.300 trẻ sơ sinh được quan sát, đánh giá. Trong đó, tỷ lệ trẻ sơ sinh có phơi nhiễm thuốc kháng nấm azole trong 3 tháng đầu thai kỳ chiếm 0,8%. Tần suất dị tật bẩm sinh gặp ở trẻ phơi nhiễm fluconazole ở bất kì liều sử dụng nào chiếm 2,8% so với 2,6% ở trẻ không phơi nhiễm thuốc này. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê khi quan sát tỷ lệ thô hoặc là tỷ lệ đã điều chỉnh. Quan sát ở 1018 trẻ em phơi nhiễm liều cao fluconazole (>350 g) cho thấy tỷ lệ về số trẻ mắc dị tật bẩm sinh không liên quan đến liều.

Trong số các dị tật bẩm sinh được ghi nhận cho thấy có sự gia tăng đáng kể về tỷ lệ trẻ mắc tứ chứng Fallot, mặc dù nguy cơ tuyệt đối là khá nhỏ. Tỷ lệ mắc dị tật này ở nhóm trẻ có phơi nhiễm là 0,1%, còn ở nhóm không phơi nhiễm là 0,03%.

Những quan sát ở những bệnh nhân có sử dụng itraconazole đường uống  hoặc ketoconazole cho thấy không có mối liên quan đáng kể nào giữa phơi nhiễm thuốc và nguy cơ dị tật bẩm sinh.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng sử dụng fluconazole đường uống trong 3 tháng đầu thai kì không liên quan tới nguy cơ dị tật bẩm sinh ở trẻ, tuy nhiên, mối liên hệ về tỷ lệ gặp tứ chứng Fallot nên được đánh giá sâu hơn để chắc chắn hơn về nguy cơ này.

Nguồn: http://www.medscape.com 

 

NGUY CƠ TĂNG NỒNG ĐỘ TRONG MÁU CỦA METHOTREXATE KHI SỬ DỤNG ĐỒNG THỜI VỚI NHÓM THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON

DSĐH. Lê Thị Thu Hiền

Khi sử dụng đồng thời methotrexate và thuốc ức chế bơm proton (PPIs) có thể làm tăng nồng độ methotrexate trong máu và dẫn tới những phản ứng bất lợi.

Nguy cơ này ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đối với những bệnh nhân phải uống liều cao methotrexate. Những phản ứng bất lợi tiềm ẩn bao gồm độc thận, phản ứng về máu, viêm niêm mạc và đau cơ.

Methotrexate được sử dụng để điều trị một số thể ung thư và một số bệnh miễn dịch. PPIs (bao gồm omeprazole, esomeprazole, pantoprazolem lansoprazole và rabeprazole) thường được sử dụng để làm giảm các triệu chứng giống như hội chứng trào ngược tiêu hóa.

Methotrexate có khả năng tương tác với tất cả các thuốc nhóm PPIs.

Bác sĩ nên thận trọng khi kê đơn đồng thời liều cao methotrexate với PPIs. PPIs nên được sử dụng ở liều thấp nhất và trong thời gian ngắn nhất có thể hoặc có thể xem xét việc ngưng tạm thời PPIs. Đồng thời, cũng nên cảnh báo với bệnh nhân đang điều trị với methotrexate về tương tác này vì PPIs có thể được bán mà không cần kê đơn.

 

Nguồn: http://www.medsafe.govt.nz

Các bản tin khác :