Thông tin thuốc số 06/2013


HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC AN TOÀN HỢP LÝ 

SỐC PHẢN VỆ TẠI BỆNH VIỆN

DSĐH. Nguyễn Thị Phương Trinh

Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, được xem là trường hợp cấp cứu, đòi hỏi phải điều trị ngay lập tức do nguy cơ gây tử vong.

1. Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố làm tăng nguy cơ gây sốc phản vệ bao gồm: giới tính nữ, bệnh nhân dưới 20 tuổi, thuốc (ví dụ NSAIDs, kháng sinh, thuốc ức chế thần kinh cơ), thức ăn (ví dụ tôm cua, trứng, đậu), nhựa, phẫu thuật mạch máu.

2. Dấu hiệu và triệu chứng

Vị trí

Triệu chứng

Tim mạch

Tăng huyết áp, choáng váng, ngất, mạch nhanh

Da niêm mạc

Mày đay, phù mạch, ngứa

Dạ dày ruột

Ban đỏ, nôn/ buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy

Hô hấp

Ho, phù miệng, tức ngực, thở khò khè, sung huyết mũi

Khác

Lo lắng, lẫn lộn, choáng váng, luôn có cảm giác buồn

 

3. Nguyên nhân sốc phản vệ

3.1. Sốc phản vệ do thuốc xảy ra tại bệnh viện

The International Collaborative Study of Severe Anaphylaxis (ICSA) đã chia các nhóm thuốc nguy cơ gây sốc phản vệ thành 3 nhóm chính:

Nguy cơ

Thuốc

Tỉ lệ

Cao

Streptokinase

284/100.000

 

Thuốc chống kết tập tiểu cầu

379/100.000

 

Thuốc giải độc rắn cắn

95/100.000

Trung bình

Penicillin

32/100.000

 

Thuốc cản quang

71/100.000

 

Chế phẩm máu

55/100.000

 

Dextran

36/100.000

Thấp

NSAIDs

16/100.000

 

Kháng sinh

6/100.000

 

3.2. Sốc phản vệ không do thuốc

Nhựa: Ngoài sốc phản vệ do thuốc thì sốc phản vệ tại bệnh viện còn có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác, đặc biệt là nhựa cao su thiên nhiên, đây là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây sốc phản vệ trong phẫu thuật. Phơi nhiễm nhựa cao su kéo dài có thể dẫn đến tăng nhạy cảm – điều kiện tiên quyết gây phản ứng quá mẫn tức thì (type 1) như sốc phản vệ. Do đó, những bệnh nhân trải qua tiến trình phẫu thuật phức tạp và những bệnh nhân đặt catheter đường niệu có nguy cơ cao xảy ra sốc phản vệ do nhựa cao su. Những sản phẩm thông dụng làm bằng nhựa cao su thiên nhiên, gồm catheter có bóng chèn trong đặt catheter động mạch, tất áp lực, ống dẫn lưu... không nên dùng cho những bệnh nhân nhạy cảm hoặc có tiền sử nhạy cảm với nhựa.

Thức ăn: Ngược với sốc phản vệ do thuốc và do nhựa, có rất ít dữ liệu giải thích về sốc phản vệ do thức ăn. Mặc dù vậy, cần lưu ý rằng tất cả các loại thức ăn đều có nguy cơ tiềm tàng gây sốc phản vệ. Một số nghiên cứu cho thấy rằng đậu là thức ăn liên quan đến đa số các trường hợp sốc phản vệ nghiêm trọng do thức ăn, tiếp theo là các thực phẩm có nguồn gốc động vật (ví dụ sữa bò, trứng gà).

Ngoài thức ăn còn có một số dị nguyên trong khăn trải giường, các vật dụng trong bệnh viện, thiết bị phẫu thuật có thể là nguyên nhân gây sốc phản vệ.

4. Điều trị

Điều trị sốc phản vệ ở người bệnh nội trú và ngoại trú tương tự nhau.

4.1. Loại bỏ yếu tố nguy cơ

Bước đầu tiên là loại bỏ tác nhân gây sốc phản vệ.

4.2. Epinephrine

Epinephrine là thuốc lựa chọn đầu tay trong sốc phản vệ. Epinephrine kích thích thụ thể alpha aderenergic, nhờ đó làm giãn cơ trơn phế quản, tăng huyết áp và giảm tình trạng sốc. Liều dùng: 0,01 mg/kg, tối đa là 0,5 mg ở người lớn và 0,3 mg ở trẻ em. Trong trường hợp sốc phản vệ nặng hơn, có thể lặp lại liều sau mỗi 5-15 phút. Nếu bệnh nhân ngưng tim hoặc tiên đoán có khả năng ngưng tim, phải chỉ định liều bolus epinephrine tiêm tĩnh mạch. 

4.3. Thở oxy

Tất cả các bệnh nhân suy hô hấp và bệnh nhân sử dụng liều lặp lại epinephrine nên được cho thở oxy lưu lượng 6 – 8 L/phút. Ngoài ra, cũng nên chỉ định thở oxy ở những bệnh nhân có bệnh hen kèm theo, có bệnh phổi mạn tính khác hoặc bệnh tim mạch.

4.4. Vị trí đặt bệnh nhân

Bệnh nhân bị sốc phản vệ nên đặt nằm ngửa, kê đầu thấp và ở nơi thoáng mát để tăng tuần hoàn và thông khí. Hơn nữa, quan sát trên những bệnh nhân sốc phản vệ bị tử vong cho thấy thay đổi tư thế không phù hợp có thể góp phần gây tử vong cho bệnh nhân.

4.5. Bù dịch

Khi bị sốc phản vệ, một lượng lớn dịch trong cơ thể bị mất đi, do đó cần phải truyền dung dịch muối đẳng trương. Tốc độ truyền phụ thuộc vào áp lực máu, tần số tim, chức năng tim, và lượng nước tiểu.

4.6. Theo dõi

Sau khi điều trị các phản ứng phản vệ, cần theo dõi bệnh nhân thêm 4 – 6 giờ vì phản ứng phản vệ có thể xảy ra lại sau khi epinephrine hết hiệu lực tác dụng. Nên theo dõi kéo dài đối với những bệnh nhân có triệu chứng trầm trọng hoặc dai dẳng.

4.7. Thuốc dùng kèm

Thuốc tăng huyết áp mạnh (ví dụ norepinephrine, vasopressin, hoặc metaraminol) có thể được chỉ định để chống giãn mạch và sốc để duy trì huyết áp tâm thu trên 90 mmHg nếu thất bại điều trị với epinephrine và bù dịch.

Thuốc kháng histamine có hiệu quả làm giảm các triệu chứng da niêm mạc của sốc phản vệ. Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch diphenhydramine (kháng H1) 25 – 50 mg cho người lớn và 1 mg/kg (tối đa 50 mg) cho trẻ em. Thông thường, dùng phối hợp thuốc kháng H1 và kháng H2 hiệu quả hơn dùng kháng H1 đơn độc. Hai thuốc kháng H2 thường được sử dụng là ranitidine và cimetidine. 

Nguồn: http://www.uspharmacist.com/


CẢNH GIÁC DƯỢC

 

KHUYẾN CÁO SỬ DỤNG THUỐC CHỨA METOCLOPRAMID

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Ngày 26/7/2013 vừa qua, Ủy ban về các sản phẩm thuốc dùng cho người (CHMP) của Cục quản lý Dược Châu Âu (EMA) đã đưa ra một số khuyến cáo mới khi dùng các thuốc có chứa metoclopramid, bao gồm: giới hạn liều dùng và khoảng cách dùng thuốc để giảm thiểu các nguy cơ gặp phải các tác dụng phụ tiềm ẩn nghiêm trọng trên thần kinh (não và dây thần kinh).

Các thuốc có chứa metoclopramid thường được kê đơn với các chỉ định như buồn nôn và nôn mửa do các nguyên nhân khác nhau (sau khi điều trị hóa trị, xạ trị, hậu phẫu hoặc liên quan đến chứng đau nửa đầu) và rối loạn nhu động ruột.

CHMP khẳng định lại những nguy cơ đã biết của các thuốc chứa metoclopramid trên thần kinh như rối loạn ngoại tháp ngắn hạn, các rối loạn vận động như co thắt cơ ở đầu và cổ, và rối loạn vận động muộn. Nguy cơ xảy ra các phản ứng trên thần kinh ngắn hạn cao hơn trên đối tượng trẻ nhỏ, và tăng lên khi dùng thuốc liều cao hay kéo dài. Các bằng chứng cho thấy những rủi ro khi dùng metoclopramid nhiều hơn lợi ích khi cần phải điều trị lâu dài. Ngoài ra, một số phản ứng bất lợi trên tuần hoàn hoặc tim mạch cũng được báo cáo với số lượng ít.

Kết quả của những nghiên cứu và phân tích gộp đánh giá hiệu quả/ nguy cơ của các thuốc chứa metoclopramid cho thấy:

- Metoclopramid cho hiệu quả thấp hơn so với các thuốc đối kháng 5-HT3 trong điều trị nôn và buồn nôn do xạ trị; nôn và buồn nôn cấp tính, nôn và buồn nôn xuất hiện muộn do hóa trị. Ngoài ra, trong trường hợp nôn và buồn nôn hậu phẫu, metoclopramid cho hiệu quả tương đương với các thuốc đã được phê duyệt khác.

- Metoclopramid cho thấy có hiệu quả trong trường hợp nôn và buồn nôn do đau nửa đầu cấp, nhưng hiệu quả của thuốc không tăng lên đối với các chế phẩm có hàm lượng cao hơn 10 mg. Metocloparmid cho hiệu quả cải thiện nhu động ruột và làm tăng độ hấp thu của các thuốc giảm đau khi dùng phối hợp trong các trường hợp cấp tính.

- Không có bằng chứng cho thấy hiệu quả của metoclopramid trong các trường hợp liệt dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản và khó tiêu. Đây đều là những rối loạn mạn tính cần điều trị kéo dài; đặt bệnh nhân vào nguy cơ cao gặp phải các phản ứng bất lợi trên thần kinh. Bên cạnh đó, còn thiếu các bằng chứng cho thấy metoclopramid có hiệu quả khi sử dụng làm thuốc hỗ trợ trong các quy trình chụp X quang hay phẫu thuật.

- Trong một cơ sở dữ liệu của nhà sản xuất, rối loạn ngoại tháp chiếm gần nửa số trường hợp báo cáo phản ứng bất lợi tự nguyện (1749/4005 báo cáo tính đến tháng 12/2011). Tỷ lệ báo cáo phản ứng rối loạn ngoại tháp ở trẻ em cao hơn 6 lần so với người lớn, tuy nhiên, không thể sử dụng kết quả này để ước tính chính xác việc dùng thuốc ở các độ tuổi khác nhau. Rối loạn ngoại tháp thường xảy ra sớm sau khi điều trị một vài liều đầu, và giảm khi tiêm tĩnh mạch chậm. Bệnh nhân cao tuổi dường như có nguy cơ rối loạn vận động muộn không hồi phục cao hơn khi điều trị lâu dài. Đáng chú ý, có một số lượng lớn các báo cáo về việc dùng quá liều metoclopramid ở trẻ em, đặc biệt đối với các dung dịch uống.

- Có rất ít báo cáo về các phản ứng bất lợi trên tim mạch liên quan đến metoclopramid và hầu hết các trường hợp sử dụng các chế phẩm đường tiêm tĩnh mạch trên những bệnh nhân đã có yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như cao huyết áp, sốc, ngất xỉu, nhịp tim chậm hoặc block nhĩ thất và ngừng tim.

Khuyến cáo cho cán bộ y tế:

          - Chỉ kê đơn metoclopramid trong các điều trị ngắn ngày (tối đa 5 ngày) để giảm thiểu các nguy cơ trên thần kinh và các phản ứng có hại khác. Không nên sử dụng metoclopramid trong các rối loạn mạn tính như liệt dạ dày, khó tiêu và trào ngược dạ dày thực quản hay trong các quy trình phẫu thuật hoặc chụp X-quang.

          - Ở người lớn, vẫn giữ nguyên các chỉ định của metoclopramid gồm: dự phòng nôn và buồn nôn do hậu phẫu, xạ trị, nôn và buồn nôn xảy ra muộn (không phải cấp tính) do hóa trị và điều trị triệu chứng nôn và buồn nôn do đau nửa đầu cấp (có tác dụng cải thiện độ hấp thu của các thuốc giảm đau đường uống).

          - Chống chỉ định metoclopramid cho trẻ dưới 1 tuổi. Ở trẻ em trên 1 tuổi, chỉ nên sử dụng metoclopramid là lựa chọn thứ hai (sau khi các điều trị khác đã xem xét hoặc đã thử qua) để dự phòng nôn và buồn nôn xảy ra muộn do hóa trị và điều trị nôn và buồn nôn sau phẫu thuật.

          - Ở người lớn và trẻ em, liều metoclopramid tối đa sử dụng bị thu hẹp là 0,5 mg/kg/ngày. Với người lớn, liều thông thường của dạng thuốc thường dùng với tất cả các đường dùng là 10 mg x tối đa 3 lần/ngày. Với trẻ em, liều khuyến cáo là 0,1 - 0,15 mg/kg x tối đa 3 lần/ngày.

          - Do các trường hợp quá liều thường xảy ra trên trẻ em, đặc biệt ở các dạng thuốc lỏng uống, cần đặc biệt thận trọng khi tính liều metoclopramid sử dụng cho đối tượng này và nên dùng bơm tiêm có vạch chia thích hợp để đong liều được chính xác.

          - Với các chế phẩm chứa metoclopramid đường tĩnh mạch, thuốc cần được tiêm tĩnh mạch chậm trong vòng ít nhất 3 phút để giảm thiểu nguy cơ xảy ra các phản ứng bất lợi.

          - Do đã có báo cáo về các phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên tim mạch liên quan đến metoclopramid, đặc biệt khi dùng đường tĩnh mạch, cần có chế độ theo dõi dặc biệt đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao như người cao tuổi, bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền tim, mất cân bằng điện giải hoặc nhịp tim chậm và những bệnh nhân đang dùng kèm các thuốc làm kéo dài khoảng QT.

          - Khuyên các bệnh nhân thường xuyên phải dùng metoclopromid nên có lịch tái khám với bác sĩ.

 

Nguồn: http://www.ema.europa.eu/ema/ 


ACETAMINOPHEN VÀ CÁC PHẢN ỨNG DỊ ỨNG DA HIẾM GẶP NHƯNG NGHIÊM TRỌNG

ThS. DS. Đoàn Thị Minh Diệu

Ngày 01/8/2013, FDA đã cảnh báo về nguy cơ xảy ra các phản ứng dị ứng ngoài da hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, thậm chí có thể gây tử vong liên quan đến việc sử dụng acetaminophen (paracetamol) như hội chứng Stevens Johnson (SJS), hội chứng hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) và ban mụn mủ cấp vô khuẩn toàn thân (AGEP).

Paracetamol là một thuốc giảm đau hạ sốt được sử dụng rộng rãi dưới cả hai dạng thuốc kê đơn và không kê đơn (OTC). Bệnh nhân sử dụng các chế phẩm có chứa paracetamol có thể gặp phải các phản ứng đỏ da, mẩn ngứa, phồng rộp và bong da bề mặt trong lần đầu tiên dùng thuốc hoặc ở bất kỳ lần dùng thuốc nào. Các thuốc giảm đau, hạ sốt khác như nhóm NSAIDs (ibuprofen, naproxen…) cũng có nguy cơ gây các phản ứng dị ứng ngoài da nghiêm trọng và nguy cơ dị ứng cũng đã được cảnh báo trong nhãn của các thuốc này.

Cảnh báo mới này xuất phát từ kết quả đánh giá những trường hợp gặp phản ứng dị ứng ngoài da nghiêm trọng có liên quan đến việc sử dụng paracetamol được ghi nhận trong y văn và cơ sở dữ liệu của Hệ thống báo cáo các biến cố có hại của FDA (FAERS). Rất khó để xác định tần suất xảy ra các phản ứng dị ứng da nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng paracetamol vì đây là thuốc đã lưu hành trên thị trường trong thời gian dài, được sử dụng rất rộng rãi và việc sử dụng thuốc trên từng cá thể rất khác nhau: dùng ngắn ngày hoặc dùng dài ngày… Tuy vậy, dựa trên những dữ liệu hiện có, tần suất xảy ra những phản ứng dị ứng nghiêm trọng (SJS, TEN và AGEP) khi sử dụng paracetamol là hiếm gặp.

Khi bị mẩn ngứa hoặc gặp bất kỳ một phản ứng bất lợi nào liên quan đến việc sử dụng paracetamol hoặc các thuốc giảm đau hạ sốt khác, bệnh nhân cần ngưng dùng thuốc và được chăm sóc y tế kịp thời. Bệnh nhân đã mắc phải các phản ứng dị ứng da nghiêm trọng khi sử dụng paracetamol thì không nên dùng lại thuốc này và cần trao đổi với cán bộ y tế để lựa chọn thuốc giảm đau/ hạ sốt thay thế.

Các cán bộ y tế cần nắm được nguy cơ này của paracetamol cũng như các thuốc khác có nguy cơ tương tự khi đánh giá các trường hợp bệnh nhân bị phản ứng dị ứng da nghiêm trọng nghi ngờ nguyên nhân do thuốc.

FDA yêu cầu nhà sản xuất bổ sung thông tin về nguy cơ xảy ra các phản ứng dị ứng da nghiêm trọng vào mục Cảnh báo trong nhãn thuốc của các chế phẩm thuốc kê đơn chứa paracetamol và các thuốc chứa paracetamol xin đăng ký mới dưới dạng thuốc không kê đơn. Ngoài ra, đối với các chế phẩm thuốc chứa paracetamol đã được cấp phép lưu hành trên thị trường dưới dạng thuốc không kê đơn, FDA khuyến khích nhà sản xuất bổ sung thêm cảnh báo này vào nhãn thuốc.

 

Nguồn: http://www.fda.gov/ 

 


 

THÔNG TIN – ĐIỂM BÁO

 

GIẢM ĐAU TRONG NHA KHOA

DSĐH. Ngô Thị Kim Loan

         Theo kết quả từ các tài liệu nghiên cứu mới thì phối hợp acetaminophen (paracetamol) với ibuprofen hiệu quả hơn so với việc kết hợp paracetamol và một thuốc giảm đau nhóm opioid để giảm đau trong phẫu thuật nha khoa.

          Hầu hết các bác sĩ nha khoa hay phẫu thuật viên nha đều có thói quen kết hợp paracetamol với hydrocodon (biệt dược Vicodin®) trong trường hợp đau trầm trọng sau phẫu thuật răng miệng. Tuy nhiên sự kết hợp này đã cho thấy nguy cơ lạm dụng thuốc và gây ra những phản ứng có hại.

          Các NSAID, như ibuprofen, hoạt động bằng cách ức chế tổng hợp prostaglandins, có tác dụng giảm đau, kháng viêm. Ngược lại, paracetamol không có tác dụng kháng viêm nhưng giảm đau theo nhiều cơ chế khác nhau. Tăng liều những thuốc này sẽ làm tăng tác dụng giảm đau nhưng chỉ đến một mức độ nào đó và liều cao lại có thể gây độc, nhưng kết hợp hai thuốc lại có thể giảm đau tốt hơn nhiều so với khi dùng đơn độc.

Các nghiên cứu sử dụng chỉ số NTT (number needed to treat) - là số bệnh nhân cần được điều trị để giảm bớt một ca bệnh (giảm bớt một ca bệnh tức là giảm tối thiểu 50% mức độ đau trong vòng 4 – 6 giờ). NTT càng thấp thì hiệu quả giảm đau càng cao.

Nghiên cứu tiến hành kiểm soát đau sau nhổ răng khôn. Kết quả cho thấy khi dùng phối hợp ibuprofen 200 mg + paracetamol 500 mg, chỉ số NTT là thấp nhất so với các dạng thuốc phối hợp hoặc dùng đơn độc khác.

Thuốc

Giá trị NTT

Ibuprofen 200 mg + paracetamol 500 mg

1,6

Codein 60 mg + paracetamol 1000 mg

2,2

Oxycodone 10 mg + paracetamol 650 mg

2,3

Ibuprofen 200mg

2,7

Paracetamol 1000mg

3,2

 

Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, so với các dạng kết hợp khác của ibuprofen, codein và paracetamol sử dụng để giảm đau sau nhổ răng khôn thì việc kết hợp ibuprofen + paracetamol không chỉ giảm đau tốt hơn mà còn giảm các phản ứng bất lợi của thuốc như buồn nôn, nôn mửa, đau đầu và chóng mặt.

Hướng dẫn điều trị đau theo cấp độ:

Mức độ đau

Thuốc

Nhẹ

Ibuprofen 200 – 400 mg mỗi 4 – 6 giờ

Nhẹ - trung bình

Ibuprofen 400 – 600 mg mỗi 6 giờ trong 24 giờ đầu,

sau đó 400 mg mỗi 4 – 6 giờ

Trung bình – nặng

Ibuprofen 400 – 600 mg + paracetamol 500 mg mỗi 6 giờ trong 24 giờ đầu, sau đó ibuprofen 400 mg + paracetamol 500 mg mỗi 6 giờ

Nặng

Ibuprofen 400 – 600 mg + paracetamol 650 mg + hydrocodone 10 mg mỗi 6 giờ trong 24 – 48 giờ đầu, sau đó ibuprofen 400 – 600 mg + paracetamol 500 mg mỗi 6 giờ

 

Cần lưu ý dùng liều không quá 3000 mg paracetamol hoặc 2400 mg ibuprofen mỗi ngày. Ngoài ra, sử dụng thêm corticosteroid như dexamethasone có thể làm giảm sưng đau, khó chịu sau khi nhổ răng khôn. 

Nguồn: http://www.medscape.com/ 


 

 ĐIỂM TIN

DSĐH.Nguyễn Thị Hà Giang

1. Fluoroquinolon và nguy cơ tổn thương thần kinh vĩnh viễn

Ngày 15/8/2013 vừa qua, FDA yêu cầu tất cả các nhãn thuốc fluoroquinolon phải cập nhật thêm thông tin mô tả kỹ hơn về tác dụng bất lợi nghiêm trọng trên thần kinh ngoại biên. Tổn thương thần kinh nghiêm trọng tiềm ẩn gây ra bởi các thuốc nhóm fluoroquinolon có thể xảy ra sớm ngay sau khi uống thuốc và không hồi phục.

Nguy cơ trên thần kinh ngoại biên chỉ xảy ra khi dùng thuốc theo đường toàn thân (uống hoặc tiêm), không liên quan đến thuốc dùng tại chỗ (nhỏ tai hoặc nhỏ mắt). Các fluoroquinolon được khuyến cáo bao gồm: levofloxacin (Levaquin), ciprofloxacin (Cipro), moxifloxacin (Avelox), norfloxacin (Noroxin), ofloxacin (Floxin), và gemifloxacin (Factive).

Bệnh thần kinh ngoại biên là một rối loạn thần kinh xảy ra trên cánh tay hoặc chân, với các triệu chứng bao gồm đau, nóng rát, ngứa ran, tê, yếu... Bệnh nhân nếu có triệu chứng trên thần kinh ngoại biên cần ngừng dùng thuốc và chuyển sang nhóm kháng sinh khác, trừ khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn so với nguy cơ. Nguy cơ này có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khi đang điều trị với fluoroquinolon và có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng thuốc.

Kết quả của một báo cáo gần đây trong dữ liệu Hệ thống báo cáo các biến cố có hại của FDA (FAERS) cho thấy mặc dầu nguy cơ bệnh thần kinh ngoại biên đã được mô tả trên nhãn thuốc của các fluoroquinolon đường toàn thân nhưng chưa mô tả về khả năng khởi bệnh nhanh chóng và vĩnh viễn. Sự khởi đầu của bệnh thần kinh ngoại biên sau khi bắt đầu điều trị với fluoroquinolon diễn ra nhanh chóng, thường trong vòng một vài ngày.

Bác sĩ điều trị nên cho bệnh nhân biết các triệu chứng của bệnh thần kinh ngoại biên có thể gặp khi dùng thuốc fluoroquinolon để bệnh nhân ý thức được và báo cáo lại khi thấy có xuất hiện các triệu chứng của bệnh.

Nguồn: http://www.fda.gov/Drugs/

 

2. Hạn chế sử dụng các thuốc có chứa dẫn chất dẫn chất của ergot (alkaloid nấm cựa gà)

Ngày 28/6/2013, Ủy ban các sản phẩm thuốc dùng cho người (CHMP) của Cục quản lý Dược Châu Âu (EMA) đã khuyến cáo hạn chế sử dụng các loại thuốc có chứa các dẫn chất nấm cựa gà do làm tăng nguy cơ xơ hóa (hình thành mô liên kết quá độ làm tổn thương các cơ quan và cấu trúc cơ thể, đôi khi gây tử vong; rất khó chẩn đoán do các triệu chứng xuất hiện chậm và có thể không hồi phục) và nguy cơ nhiễm độc ergot (co thắt, suy tuần hoàn). Những thuốc này không còn được sử dụng để điều trị một số tình trạng bệnh lý của hệ tuần hoàn, rối loạn trí nhớ và cảm giác hay chứng đau nửa đầu do những rủi ro của thuốc cao hơn so với lợi ích trong các chỉ định này.

Các dẫn chất nấm cựa gà vẫn được sử dụng trong các chỉ định khác như điều trị sa sút trí tuệ (bao gồm cả bệnh Alzheimer), và chứng đau nửa đầu cấp tính.

Khuyến cáo cho cán bộ y tế:

          Nên ngừng kê đơn các thuốc có chứa hoạt chất dihydroergocristin, dihydroergotamin, dihydroergotoxin, nicergolin hoặc phối hợp dihydroergocryptine với caffein đối với các chỉ định sau:

-         Điều trị triệu chứng suy giảm nhận thức và thần kinh cảm giác bệnh lý mãn tính ở người già (ngoại trừ bệnh Alzheimer và các chứng mất trí khác).

-         Điều trị hỗ trợ đau cách hồi trong bệnh tắc động mạch ngoại vi (PAOD giai đoạn II).

-         Điều trị hỗ trợ hội chứng Raynaud.

-         Điều trị hỗ trợ suy giảm thị lực và rối loạn thị trường được cho có nguồn gốc mạch máu.

-         Bệnh lý võng mạc cấp tính có nguyên nhân mạch máu.

-         Dự phòng đau nửa đầu.

-         Hạ huyết áp thế đứng.

-         Điều trị triệu chứng bệnh suy tĩnh mạch bạch huyết.

Nguồn: http://www.ema.europa.eu/ema

 

3. Chống chỉ định sử dụng nitrofurantoin trên bệnh nhân suy thận.

     Cơ quan Quản lý thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe Anh (MHRA) khuyến cáo chống chỉ định sử dụng nitrofurantoin để điều trị viêm đường tiết niệu cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin Clcr < 60 ml/phút. Nitrofurantoin là một kháng sinh đường uống thường dùng điều trị nhiễm trùng đường niệu. Hiệu quả kháng khuẩn của nitrofurantoin phụ thuộc vào sự bài tiết của thuốc này qua đường niệu, vì vậy, ở những bệnh nhân suy thận, sự bài tiết của nitrofurantoin qua thận giảm dẫn đến thất bại trong điều trị. Các bác sĩ cần phải đánh giá chức năng thận của bệnh nhân trước khi kê đơn nitrofurantoin, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi. Ngoài ra, cần tư vấn cho bệnh nhân các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra khi dùng nitrofurantoin như độc tính trên phổi, gan, bệnh thần kinh ngoại biên và chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân thiếu hụt G6PD và rối loạn chuyển hóa porphyrin cấp.

Nguồn: http://www.mhra.gov.uk/

 

4. Vancomycin và nguy cơ độc thận

     Theo ấn phẩm Medicines Safety Update số 4, tháng 8/2013 vừa qua, Cơ quan quản lý dược phẩm Úc (TGA) đã cảnh báo về nguy cơ độc thận có liên quan đến vancomycin truyền tĩnh mạch. TGA khuyến cáo các cán bộ y tế cần phải nắm được nguy cơ này và thận trọng, theo dõi bệnh nhân khi sử dụng vancomycin đặc biệt là những bệnh nhân suy thận và/ hoặc có các yếu tố nguy cơ khác, cũng như bệnh nhân điều trị thời gian dài với thuốc này.

     Vancomycin là một kháng sinh glycopeptide được dùng để điều trị các nhiễm trùng đe dọa đến tính mạng mà các thuốc ít độc khác điều trị không hiệu quả. TGA đã báo cáo một trường hợp độc thận do dùng vancomycin với biểu hiện cận lâm sàng là tăng creatinin huyết thanh. Trong trường hợp này, nồng độ vancomycin huyết thanh được đo tại thời điểm 11 giờ sau khi dùng thuốc và ngày thứ 10 sau khi ngừng thuốc. Tuy nhiên, người báo cáo cho rằng độc tính trên thận đã có thể ngăn ngừa được nếu tiến hành kiểm tra nồng độ vancomycin huyết thanh sớm hơn (khoảng ngày thứ 3 của đợt điều trị).

     Việc sử dụng vancomycin truyền tĩnh mạch kéo dài và không theo dõi, đặc biệt đối với bệnh nhân có tổn thương thận, có thể dẫn đến những độc tính trên thận nghiêm trọng, không phục hồi. Ngoài ra, béo phì và cao tuổi làm tăng nguy cơ gây độc tính trên thận của thuốc.

     Tờ tóm tắt thông tin sản phẩm của các chế phẩm lưu hành tại Úc và Hướng dẫn điều trị quốc gia Úc khuyến khích theo dõi tất cả các bệnh nhân dùng thuốc trong thời gian dài (trên 48-72 giờ). Các cán bộ y tế có thể tham khảo các tài liệu này để giảm thiểu nguy cơ độc tính trên thận của thuốc khi sử dụng vancomycin cho bệnh nhân.

Nguồn: http://www.tga.gov.au/

Các bản tin khác :