Thông tin thuốc số 05/2013


HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC AN TOÀN HỢP LÝ

 

TÓM TẮT HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG VI SINH VẬT Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ CÓ GIẢM BẠCH CẦU HẠT

DSĐH. Nguyễn Thị Quỳnh Trang

A. GIỚI THIỆU

Sốt trong giảm bạch cầu hạt do hóa trị liệu có thể là dấu hiệu duy nhất của một tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng, bởi vì các dấu hiệu và triệu chứng điển hình của sự viêm nhiễm đã bị làm mờ. Các nhà lâm sàng cần nhận thức một cách nhạy bén về các nguy cơ nhiễm trùng, các phương pháp chẩn đoán cũng như các liệu pháp kháng vi sinh vật để kiểm soát các bệnh nhân bị sốt trong giai đoạn giảm bạch cầu hạt. Vì vậy, trình tự tiếp cận đối với tình trạng sốt và giảm bạch cầu hạt, dự phòng nhiễm trùng, chẩn đoán, và điều trị đã được thiết lập trong suốt hơn 40 năm qua, đồng thời cũng thường xuyên được sửa đổi, cập nhật dựa vào các kinh nghiệm và bằng chứng lâm sàng theo thời gian.

B. CÁC KHUYẾN CÁO TRONG ĐÁNH GIÁ VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN SỐT KÈM GIẢM BẠCH CẦU HẠT.

I. Vai trò của việc đánh giá nguy cơ cũng như phân biệt giữa nguy cơ cao và nguy cơ thấp ở những bệnh nhân sốt kèm giảm bạch cầu hạt?

1. Việc đánh giá các biến chứng của nhiễm trùng nghiêm trọng nên căn cứ vào sự hiện diện của tình trạng sốt. Việc đánh giá đúng nguy cơ sẽ giúp xác định được loại liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm (đường uống hay đường tĩnh mạch), nơi điều trị (nội trú hay ngoại trú) và độ dài của liệu pháp kháng sinh.

2. Hầu hết các chuyên gia đều thống nhất một bệnh nhân được xem là nguy cơ cao nếu tình trạng giảm bạch cầu hạt dự kiến kéo dài (>7 ngày), nghiêm trọng (giá trị bạch cầu tuyệt đối (ANC) ≤100 tế bào/mm3 sau liệu pháp hóa trị độc tế bào) và/ hoặc các bệnh kèm quan trọng, bao gồm huyết áp thấp, viêm phổi, đau vùng bụng mới khởi phát hoặc các thay đổi trạng thái thần kinh. Những bệnh nhân này nên được nhập viện và điều trị kháng sinh kinh nghiệm.

3. Những bệnh nhân có nguy cơ thấp, bao gồm thời gian giảm bạch cầu ngắn (≤7 ngày) hoặc không có hoặc ít các bệnh kèm. Những bệnh nhân này thích hợp điều trị ngoại trú với các kháng sinh đường uống.

4. Việc phân loại nguy cơ còn có thể dựa vào việc sử dụng hệ thống thang điểm của hiệp hội đa quốc gia về hỗ trợ chăm sóc trong ung thư (thang điểm MASCC)

- Thang điểm MASCC < 21: nguy cơ cao

- Thang điểm MASCC ≥ 21: nguy cơ thấp.

II. Các xét nghiệm và nuôi cấy nên được chỉ định khi đánh giá?

5. Xét nghiệm công thức bạch cầu, tiểu cầu, creatinin huyết thanh, ure máu, điện giải đồ, men gan, bilirubin toàn phần.

6. Khuyến cáo làm ít nhất hai mẫu cấy máu, một mẫu được lấy từ lumen của catheter tĩnh mạch trung tâm (nếu có) và một mẫu từ mạch ngoại vi. Nếu không có đặt catheter tĩnh mạch trung tâm thì nên lấy hai mẫu máu tĩnh mạch vào hai thời điểm khác nhau. Thể tích máu lấy nuôi cấy nên giới hạn <1% thể tích máu toàn phần.

7. Nên chỉ định thêm mẫu nuôi cấy từ vị trí khác mà nghi ngờ có nhiễm khuẩn.

8. Chỉ định XQ phổi ở những bệnh nhân có dấu hiệu hoặc triệu chứng về hô hấp.

III. Nơi điều trị và liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm ở những bệnh nhân sốt kèm giảm bạch cầu hạt?

9. Bệnh nhân có nguy cơ cao cần nhập viện và điều trị với liệu pháp kháng sinh đường tĩnh mạch, đơn trị liệu với các β-lactam kháng pseudomonas, ví dụ như cefepime, carbapenem (meropenem hoặc imipenem/cilastatin) hoặc piperacillin/tazobactam được khuyến cáo. Các kháng sinh khác (aminoglycoside, fluoroquinolon, và/ hoặc vancomycin) có thể được sử dụng kết hợp để kiểm soát các biến chứng (ví dụ: huyết áp thấp và viêm phổi) hoặc khi nghi ngờ hoặc có bằng chứng về sự đề kháng kháng sinh.

10. Vancomycin (hoặc các kháng sinh có phổ tác dụng trên cầu khuẩn Gr (+) khác) không được khuyến cáo như là một phần cơ bản của liệu pháp kháng sinh ban đầu. Những kháng sinh này nên được xem xét chỉ định trong những trường hợp cụ thể, bao gồm nghi ngờ nhiễm trùng có liên quan đến catheter, nhiễm trùng da hoặc mô mềm, viêm phổi, huyết động không ổn định.

11. Sự điều chỉnh kháng sinh nên xem xét ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm các vi khuẩn đa kháng, nhất là ở những bệnh nhân có tình trạng bệnh không ổn định hoặc có kết quả cấy máu với vi khuẩn đa kháng, bao gồm:

- MRSA: Vancomycin, linezolid hoặc daptomycin

- Vancomycin – resistant enterococcus (VRE): Linezolid hoặc daptomycin

- ESBLs: Carbapenem

- Vi khuẩn sinh men carbapenemase (KPC): polymyxin – colistin hoặc tigecycline.

12. Hầu hết các bệnh nhân dị ứng penicillin dung nạp được cephalosporin, tuy nhiên ở những người có tiền sử có phản ứng quá mẫn tức thì (ví dụ: co thắt phế quản, mề đay) nên tránh dùng β-lactam và carbapenem, có thể sử dụng phối hợp ciprofloxacin + clindamycin hoặc aztreonam + vancomycin.

13. Những bệnh nhân có giảm bạch cầu nhưng không kèm sốt mà có những dấu hiệu hoặc triệu chứng mới nghi ngờ có nhiễm trùng thì nên được đánh giá và điều trị như những bệnh nhân nguy cơ cao.

14. Những bệnh nhân nguy cơ thấp nên khởi đầu với kháng sinh kinh nghiệm đường uống hoặc tĩnh mạch, có thể điều trị ngoại trú.

-  Ciprofloxacin + amoxicillin/clavulanate được khuyến cáo kết hợp trong liệu pháp kháng sinh đường uống. Các liệu pháp khác, bao gồm ciprofloxacin hoặc levofloxacin đơn trị liệu hoặc ciprofloxacin + clindamycin, ít được nghiên cứu đánh giá những vẫn thường được sử dụng.

- Những bệnh nhân đã được dự phòng với fluoroquinolon không nên điều trị với liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm có fluoroquinolon.

IV. Sự điều chỉnh kháng sinh nên được tiến hành khi nào và như thế nào trong suốt quá trình sốt kèm giảm bạch cầu?

15. Sự điều chỉnh kháng sinh nên được thực hiện căn cứ trên lâm sàng và dữ liệu về vi sinh vật.

16. Hiếm khi cần phải thay đổi liệu pháp kháng sinh ở những bệnh nhân sốt dai dẳng kéo dài nhưng tình trạng khá ổn định.

17. Sử dụng kháng sinh thích hợp với vị trí nhiễm trùng và sự nhạy cảm của vi sinh vật.

18. Vancomycin hoặc các kháng sinh có phổ tác dụng lên cầu khuẩn Gr (+) được sử dụng thì nên được dừng sau 02 ngày nếu không có bằng chứng về sự nhiễm trùng do vi khuẩn Gr (+).

19. Nếu tình trạng huyết động của bệnh nhân vẫn không ổn định sau những liều khởi đầu thì nên sử dụng liệu pháp mở rộng phổ bao gồm: vi khuẩn Gr (-), Gr (+) đề kháng, vi khuẩn kị khí và nấm.

20. Sự chuyển đổi từ kháng sinh đường tĩnh mạch sang đường uống nên được tiến hành khi bệnh nhân ổn định về tình trạng lâm sàng và có mức độ hấp thu thuốc hợp lý. Bệnh nhân ngoại trú có sốt dai dẳng hoặc tái diễn trong vòng 48 giờ nên được nhập viên lại và điều trị như bệnh nhân có nguy cơ cao.

21. Nên xem xét sử dụng thuốc kháng nấm kinh nghiệm ở những bệnh nhân nguy cơ cao có sốt dai dẳng từ 4-7 ngày mặc dù đã sử dụng liệu pháp kháng sinh phổ rộng và không xác định được tiêu điểm nhiễm trùng.

V. Liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm nên kéo dài trong bao lâu?

22.  Ở những bệnh nhân nhiễm trùng có dữ liệu về vi sinh vật thì căn cứ vào loại vi khuẩn và vị trí nhiễm trùng, liệu pháp kháng sinh thích hợp nên kéo dài ít nhất đến khi ANC ≥ 500 tế bào/mm3 hoặc kéo dài hơn nếu cần.

23. Ở những bệnh nhân có sốt không rõ nguyên nhân, nên chỉ định cho đến khi có những dấu hiệu khả quan của sự phục hồi tủy xương, thường sử dụng điểm mốc ANC ≥ 500 tế bào/mm3

24. Khi đã hoàn thành một liệu trình điều trị thích hợp, các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng về nhiễm trùng đều được phục hồi thì ở những bệnh nhân vẫn còn giảm bạch cầu có thể dự phòng với fluoroquinolon đường uống cho đến khi tủy xương phục hồi.

VI. Khi nào nên sử dụng kháng sinh dự phòng và loại kháng sinh nào?

25. Dự phòng với fluoroquinolon nên được xem xét ở những bệnh nhân nguy cơ cao. Levofloxacin và ciprofloxacin là hai kháng sinh đã được đánh giá một cách toàn diện và xem như tương đương nhau, mặc dù levofloxacin thích hợp hơn cho các tình trạng có nguy cơ cao nhiễm trùng do liên cầu viridian.

26. Việc kết hợp thêm các kháng sinh tác dụng lên vi khuẩn Gr (-) trong liệu pháp dự phòng với fluoroquinolon không được khuyến cáo.

27. Dự phòng kháng sinh ở những bệnh nhân nguy cơ thấp không phải là khuyến cáo thường lệ.

VII. Vai trò của liệu pháp kháng nấm kinh nghiệm, liệu pháp kháng nấm ưu tiên và loại thuốc kháng nấm nên được sử dụng?

Nguy cơ cao:

28. Liệu pháp kháng nấm kinh nghiệm và phát hiện nhiễm nấm xâm nhập nên được xem xét ở những bệnh nhân sốt dai dẳng, tái diễn sau 4-7 ngày sử dụng kháng sinh, và những bệnh nhân có thời gian giảm bạch cầu kéo dài >7 ngày. Không có đầy đủ các dữ liệu để đưa ra khuyến cáo về một tác nhân kháng nấm kinh nghiệm đặc hiệu cho một bệnh nhân đã dự phòng kháng nấm men trước đó, nhưng việc chuyển đổi sang một nhóm kháng nấm men khác đường tĩnh mạch vẫn được khuyến cáo.

29. Sử dụng thuốc kháng nấm ưu tiên được chấp nhận là một liệu pháp thay thế cho liệu pháp kinh nghiệm ở một nhóm cụ thể những bệnh nhân giảm bạch cầu có nguy cơ cao. Đó là những bệnh nhân vẫn còn sốt dai dẳng sau 4-7 ngày điều trị với kháng sinh phổ rộng nhưng ổn định về mặt lâm sàng, không có dấu hiệu lâm sàng hay CT ngực, xoang mũi về nhiễm nấm, có kết quả xét nghiệm huyết thanh âm tính về bằng chứng xâm nhập của nấm. Liệu pháp kháng nấm nên được bắt đầu nếu xác định thấy có bất cứ một dấu hiệu nào về nhiễm nấm.

Nguy cơ thấp:

30. Ở những bệnh nhân nguy cơ thấp, nguy cơ nhiễm trùng nấm xâm nhập là khá thấp, vì vậy việc sử dụng liệu pháp kháng nấm không phải là khuyến cáo thường lệ.

VIII. Khi nào nên chỉ định dự phòng kháng nấm và với thuốc nào?

Nguy cơ cao:

31. Dự phòng nhiễm nấm Candida được khuyến cáo ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao nhiễm nấm Candida xâm nhập, như những bệnh nhân được cấy ghép tế bào gốc cùng nhóm gene hoặc những người trải qua liệu pháp cảm ứng bổ sung. Fluconazole, itraconazole, voriconazole, posaconazole, micafungin, caspofungin đều được chấp nhận.

32. Dự phòng nhiễm nấm Aspergillus xâm nhập với posaconazole nên được xem xét một cách có chọn lọc đối với những bệnh nhân từ 13 tuổi trở lên có chỉ định hóa trị do leukemia cấp dòng tủy hay hội chứng bất thường của tủy xương có nguy cơ nhiễm Aspergillus xâm nhập.

33. Dự phòng nhiễm nấm Aspergillus ở những bệnh nhân ghép tủy xương đồng gene hoặc tự thân không cho thấy có hiệu quả.

Nguy cơ thấp

34. Không khuyến cáo áp dụng liệu pháp dự phòng nhiễm nấm đối với những bệnh nhân dự kiến độ dài giai đoạn giảm bạch cầu <7 ngày.

IX. Vai trò của dự phòng kháng virus và thuốc kháng virus khuyến cáo sử dụng?

35. Những bệnh nhân có kết quả huyết thanh dương tính với Herpes virus (HSV) có ghép tế bào gốc đồng gene hoặc liệu pháp cảm ứng leukemia nên dự phòng với acyclovir.

36. Điều trị kháng virus đối với HSV hoặc varicella – zoster virus (VSV) chỉ được chỉ định nếu có bằng chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm cho thấy có sự hiện diện của virus.

37. Xét nghiệm virus đường hô hấp (bao gồm xét nghiệm đối với influenza, parainfluenzae, adenovirus, virus hỗn hợp đường hô hấp (RSV), và metapneumovirus ở người) và XQ phổi được chỉ định ở những bệnh nhân có triệu chứng ở đường hô hấp trên và/ hoặc kèm ho.

38. Tiêm vaccine dự phòng nhiễm cúm thường niên với vaccine bất hoạt được khuyến cáo ở tất cả bệnh nhân điều trị ung thư. Thời điểm tiêm vaccine tối ưu chưa được xác định, tuy nhiên đáp ứng về mặt huyết thanh có thể tốt nhất là vào giữa chu kỳ hóa trị (>7 ngày sau lần điều trị cuối cùng) hoặc >2 tuần trước khi hóa trị bắt đầu.

39. Nhiễm virus cúm nên được điều trị với các tác nhân ức chế neuramidase nếu dòng nhiễm nhạy cảm. Nếu có sự bùng phát dịch cúm, các bệnh nhân giảm bạch cầu có triệu chứng gần như nhiễm cúm nên được điều trị theo phác đồ kinh nghiệm.

X. Vai trò của các yếu tố kích thích tạo máu (G-CSF) trong việc kiểm soát sốt và giảm bạch cầu?

40. Nên xem xét đến việc sử dụng phòng ngừa các yếu tố kích thích tạo máu ở những bệnh nhân có nguy cơ sốt và giảm bạch cầu dự kiến ≥20%.

41. Không khuyến cáo dùng CSFs để điều trị ở những bệnh nhân đã có tình trạng sốt và giảm bạch cầu.

XI. Chẩn đoán và kiểm soát nhiễm trùng có liên quan tới catheter ở bệnh nhân giảm bạch cầu.

42. Thời gian dương tính cách biệt >120 phút của các mẫu cấy máu định tính ở mẫu rút đồng thời từ tĩnh mạch trung tâm và tĩnh mạch ngoại biên chỉ thị cho tình trạng nhiễm trùng huyết có liên quan tới catheter.

43. Đối với nhiễm trùng huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch trung tâm do S. aureus, P. aeruginosa, nấm hoặc lao, khuyến cáo rút catheter kết hợp với liệu pháp kháng sinh toàn thân ít nhất trong 14 ngày. Rút catheter cũng được khuyến cáo đối với trường hợp huyết khối do nhiễm trùng, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng huyết với huyết động không ổn định hoặc nhiễm trùng huyết kéo dài trên 72 giờ mặc dù đã sử dụng liệu pháp kháng sinh thích hợp.

44. Đối với trường hợp có dữ liệu về nhiễm trùng huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch trung tâm do coagulase – nagative staphylococci, catheter có thể được giữ lại và sử dụng liệu pháp kháng sinh toàn thân kèm hoặc không kèm liệu pháp kháng sinh tại chỗ.

45. Điều trị kéo dài (4-6 tuần) được khuyến cáo đối với nhiễm trùng huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch trung tâm phức tạp, được định nghĩa bao gồm: nhiễm trùng mô sâu, viêm nội tâm mạc, huyết khối do nhiễm trùng, hoặc nhiễm khuẩn huyết, nhiễm nấm huyết kéo dài trên 72 giờ sau khi đã rút bỏ catheter ở những bệnh nhân có liệu pháp kháng sinh thích hợp (cho S.aureus và các tác nhân gây bệnh khác).

46. Vệ sinh tay, đảm bảo vô trùng, sát khuẩn da với chlorhexidine trong suốt quá trình đặt catheter tĩnh mạch trung tâm được khuyến cáo cho tất cả các trường hợp đặt catheter tĩnh mạch trung tâm. 

Nguồn: Lược dịch “Clinical practice guideline for the use of antimicrobial agents in neutropenic patiens with cancer” by the Infectious Diseases Society of America.



CẢNH GIÁC DƯỢC

 

OLMESARTAN MEDOXOMIL VÀ RỐI LOẠN DẠ DÀY RUỘT NGHIÊM TRỌNG

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Ngày 03/7/2013 vừa qua, FDA đã đưa ra cảnh báo về mối liên hệ giữa thuốc ức chế thụ thể angiotensin II olmesartan medoxomil và sự phát triển của một rối loạn đường ruột nghiêm trọng.

Theo FDA, đã có 23 trường hợp báo cáo về một bệnh ruột giống như bệnh viêm ruột loét miệng liên quan đến các bệnh nhân đang điều trị với olmesartan medoxomil. Bệnh đặc trưng bởi triệu chứng tiêu chảy và giảm cân đáng kể, một số trường hợp có teo nhung mao ruột. Các triệu chứng của bệnh ruột này xảy ra nhiều tháng đến nhiều năm sau khi bắt đầu dùng olmesartan medoxomil.

Tất cả các trường hợp được cải thiện sau khi ngưng olmesartan, và các triệu chứng tái phát ở 10 bệnh nhân sau khi dùng lại thuốc này.

FDA cho biết 23 trường hợp này giống như 22 trường hợp đã được mô tả vào năm ngoái bởi nghiên cứu của Bệnh viện Mayo.

Không có thuốc nào trong nhóm này có liên quan đến sự phát triển của bệnh ruột giống bệnh viêm ruột loét miệng. Theo FDA, nguyên nhân của bệnh này có thể là do một quá mẫn muộn cục bộ hoặc phản ứng trung gian tế bào đối với olmesartan medoxomil - tiền chất của olmesartan.

FDA khuyến cáo các bệnh nhân nên lưu ý và đến ngay bác sĩ nếu bị tiêu chảy mãn tính, nghiêm trọng đi kèm với giảm cân khi đang dùng olmesartan. Nếu không xác định được nguyên nhân nào khác cho các triệu chứng này thì bác sĩ nên cho bệnh nhân ngưng điều trị olmesartan.

 

Nguồn: http://www.ashp.org/

 

 

CẢNH BÁO MỚI CHO CÁC SẢN PHẨM CHỨA TINH BỘT HYDROXYETHYL

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Ngày 24/6/2013, FDA cảnh báo rằng các bác sĩ không nên dùng các dung dịch có chứa tinh bột hydroxyethyl (ví dụ như Refortan, Voluven...) trên các bệnh nhân bị bệnh nặng.

Theo FDA, việc sử dụng các dung dịch có chứa tinh bột hydroxyethyl làm tăng nguy cơ tử vong và suy thận ở những người bệnh nặng, kể cả những người bị nhiễm trùng huyết hoặc đang nằm điều trị tại đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU), và do đó không nên dùng dung dịch có chứa tinh bột hydroxyethyl cho các đối tượng bệnh nhân này.

Thông tin này sẽ được thêm vào phần Cảnh báo và Thận trọng trên nhãn của tất cả các dung dịch có chứa tinh bột hydroxyethyl, khẳng định rằng các sản phẩm này không nên dùng trên những bệnh nhân trải qua phẫu thuật tim hở có bắc cầu động mạch vành vì có thể xảy ra chảy máu quá mức.

FDA cũng khẳng định không nên chỉ định tinh bột hydroxyethyl cho bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận từ trước. Nên ngưng các sản phẩm này khi có dấu hiệu đầu tiên của tổn thương thận hoặc rối loạn đông máu. Vì tổn thương thận có thể xảy ra trong vòng 90 ngày sau khi ngưng điều trị liệu pháp tinh bột hydroxyethyl, nên bệnh nhân cần được theo dõi tối thiểu là 90 ngày sau khi điều trị với các sản phẩm này.

 Nguồn: http://www.ashp.org/

 


 

THÔNG TIN – ĐIỂM BÁO

 

THUỐC MỚI ĐIỀU TRỊ CHỨNG BỐC HỎA DO MÃN KINH

DSĐH. Ngô Thị Kim Loan

Ngày 28 tháng 6 vừa qua, FDA chấp thuận việc sử dụng Brisdelle để điều trị chứng bốc hỏa từ vừa đến nặng (triệu chứng vận mạch) liên quan đến mãn kinh.

Có nhiều liệu pháp điều trị chứng bốc hỏa đã được FDA chấp thuận, nhưng tất cả đều ở dạng estrogen đơn độc hoặc phối hợp với progestin. Brisdelle chứa hoạt chất paroxetin - chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc - là liệu pháp điều trị chứng bốc hỏa không dùng hormon duy nhất được FDA chấp thuận hiện nay.

Chứng bốc hỏa liên quan đến mãn kinh xảy ra trên hơn 75% phụ nữ và có thể kéo dài đến 5 năm, thậm chí còn kéo dài hơn nữa. Chứng bốc hỏa không nguy hiểm đến tính mạng nhưng triệu chứng của nó có thể rất khó chịu, gây bực bội, khó ngủ và rối loạn giấc ngủ.

Tính an toàn và hiệu quả của Brissdelle đã được chứng minh trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, giả dược có kiểm soát trên 1.175 phụ nữ sau mãn kinh bị chứng bốc hỏa từ vừa đến nặng (ít nhất là 7 - 8 lần/ngày hoặc 50 - 60 lần/tuần). Liệu trình điều trị trong hai nghiên cứu này lần lượt là 12 tuần và 24 tuần. Tuy chưa rõ cơ chế nhưng kết quả cho thấy Brisdelle có tác dụng làm giảm triệu chứng cơn bốc hỏa so với giả dược.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất ở những bệnh nhân điều trị bằng Brisdelle là đau đầu, mệt mỏi, nôn hoặc buồn nôn.

Brisdelle chứa 7,5mg paroxetin và dùng liều duy nhất trong ngày vào buổi tối trước khi ngủ. Những thuốc khác như Paxil và Pexeva chứa paroxetin liều cao hơn và được chấp thuận để điều trị tình trạng rối loạn tâm thần nặng, rối loạn ảo giác - ám ảnh, sợ hãi. Tất cả những thuốc được chấp thuận để điều trị trầm cảm, bao gồm cả Paxil và Pexeva, đều đưa ra cảnh báo về nguy cơ tự tử ở trẻ em và trẻ thành niên. Vì Brisdelle có chứa thành phần hoạt tính tương tự Paxil và Pexeva nên trên nhãn thuốc Brisdelle cũng có cảnh báo về nguy cơ tự tử.

Một số thông tin khác trong phần Cảnh báo trên nhãn thuốc Brisdelle là có khả năng làm giảm hiệu quả của tamoxifen nếu dùng đồng thời hai thuốc này, tăng nguy cơ xuất huyết, nguy cơ phát triển hội chứng serotonin (dấu hiệu và triệu chứng gồm lẫn lộn, tăng nhịp tim và tăng huyết áp).

Nguồn: http://www.fda.gov/
 

TELMISARTAN, VALSARTAN CÓ THỂ GIẢM NGUY CƠ BỆNH TIM Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

DSĐH. Hà Thị Như Liên

Theo nghiên cứu được công bố trên Canadian Medical Association Journal vào ngày 8 tháng 7 vừa qua, telmisartan và valsartan, là những thuốc thường sử dụng để làm giảm huyết áp ở những bệnh nhân bị đái tháo đường, có liên quan đến giảm nguy cơ nhập viện do nhồi máu cơ tim.

Các thuốc thuộc nhóm ức chế receptor angiotensin như telmisartan, valsartan, candesartan, irbesartan và losartan, thường được sử dụng thay thế cho nhau để kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, có một vài bằng chứng từ các nghiên cứu quy mô nhỏ cho thấy rằng telmisartan có một vài đặc điểm khác biệt đáng kể so với các thuốc cùng nhóm khác và có thể giúp cải thiện sức khỏe tim mạch.

Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ 54.186 người trên 65 tuổi bị bệnh đái tháo đường ởOntario. Những người này dùng thuốc ức chế receptor angiotensin từ 1 tháng 4 năm 2001 đến 31 tháng 3 năm 2010.

Kết quả phân tích cho thấy telmisartan và valsartan có liên quan với giảm đáng kể nguy cơ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc suy tim so với các thuốc ức chế receptor angiotensin khác.

Tác giả nghiên cứu cho biết “Phát hiện này cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong hiệu quả của các thuốc ức chế receptor angiotensin khi sử dụng để ngăn ngừa bệnh mạch máu lớn do bệnh đái tháo đường”. Họ cũng cho biết hiệu quả này chưa được áp dụng trên thực hành lâm sàng.

Mặc dù các thuốc thuộc nhóm ức chế receptor angiotensin giống nhau về cấu trúc cơ bản, nhưng vẫn có sự khác biệt về tác dụng dược lý quan trọng để lý giải cho kết quả này. Đặc biệt, ở nồng độ huyết tương đạt được trên lâm sàng, telmisartan là một trong các thuốc này có khả năng tương thích giữa cấu trúc và hoạt hóa receptor PPARg, một yếu tố phiên mã hoạt hóa kết hợp, có tác dụng điều chỉnh chuyển hóa lipid và mức độ nhạy cảm của insulin

Các tác giả đề nghị cần có thêm các nghiên cứu kiểm soát ngẫu nhiên và các nghiên cứu quan sát lớn hơn để tiếp tục đánh giá hiệu quả trên bệnh tim mạch và nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân sử dụng các loại ức chế receptor angiotensin khác nhau.

 

Nguồn: http://www.docguide.com


BỆNH THẬN VÀ LIỀU CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG MỚI

DSĐH. Nguyễn Thị Phương Trinh

Các thuốc điều trị đái tháo đường loại ức chế dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4), loại có tác dụng tương tự GLP-1, và loại ức chế chất vận chuyển glucose sodium 2 (SGLT2) nên được điều chỉnh liều ở bệnh nhân bị bệnh thận.

Phân loại

Thuốc

Biệt dược

Liều thông thường

Đường dùng

Liều ở bệnh nhân bị bệnh thận

Thuốc ức chế DPP-4

Linagliptin

Tradjenta®

5 mg 1 lần/ ngày

Uống

 

Không xác định

Saxagliptin

Onglyza®

2,5 - 5 mg 1 lần/ngày

Uống

CrCl ≤ 50 mL/phút và ESRD

 

2,5 mg/ ngày

(chỉ định sau khi thẩm phân)

Sitagliptin

Januvia®

100 mg 1 lần/ngày

Uống

CrCl ≥ 30 - 50 mL/phút

50 mg/ ngày

Nam: SCr 1.7 - 3 mg/dL

Nữ: SCr > 1.5 - 2.5 mg/dL

CrCl < 30 mL/phút và ESRD

25 mg/ ngày

(chỉ định không cần lưu ý đến thời điểm thẩm phân)

Nam: SCr > 3.0 mg/dL

Nữ: SCr > 2.5 mg/dL

Alogliptin

Nesina®

25 mg 1 lần/ ngày

Uống

CrCl  30 - 60 mL/phút:

12,5 mg/ ngày

CrCl < 30 mL/phút và ESRD

6,25 mg/ ngày

(chỉ định không cần lưu ý đến thời điểm thẩm phân)

Thuốc t.dụng tương tự  GLP-1

Exenatide

Byetta®

5 µg 2 lần/ ngày x 1 tháng, sau đó 10 µg  2 lần/ ngày

Tiêm dưới da

CrCl 30-50 mL/phút

Sử dụng thận trọng

Bydureon®

2 mg 1 lần/ tuần

Tiêm dưới da

CrCl < 30 mL/phút

Không khuyến cáo

Liraglutide

Victoza®

0,6 mg 1 lần/ ngày x 1 tuần, sau đó   1,2 mg – 1,8 mg     1 lần/ ngày

Tiêm dưới da

 

Sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến nặng

Thuốc ức chế SGLT2

Canagliflozin

Invokana™

100 - 300 mg 1 lần/ ngày, trước ăn

Uống

eGFR ≥60 mL/phút/1,73m2

100 - 300 mg/ ngày

eGFR 45 – 60 mL/phút/1,73m2

100 mg/ ngày

eGFR 30-44 mL/min/1,73m2

Không khuyến cáo

eGFR <30 mL/phút/1,73m2 và ESRD

Chống chỉ định

 

Chú thích:     
CrCl: độ thanh thải creatinin;

eGFR: tốc độ lọc cầu thận ước tính;

ESRD: bệnh thận giai đoạn cuối;

SCr : creatinin huyết thanh.

 

Nguồn: http://www.medscape.com/

 

Các bản tin khác :