Thông tin thuốc số 02/2013


  HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC AN TOÀN HỢP LÝ

 


 

SỬ DỤNG ASPIRIN HẰNG NGÀY – LỢI ÍCH VÀ NGUY CƠ

DSĐH. Nguyễn Thị Phương Trinh

Hàng triệu người đã nghe nói về công dụng ngăn ngừa đột quỵ và nhồi máu cơ tim của aspirin. Họ thường tự dùng thuốc ngay từ đầu mà không hỏi ý kiến của bác sĩ, chuyên gia. Tuy nhiên, trên nhãn thuốc aspirin lại không đề cập đến những công dụng này. Vậy sự thật đằng sau sự không nhất quán này là thế nào?

Brochure cho bệnh nhân của FDA

FDA có một brochure giải thích về việc sử dụng aspirin hằng ngày với tiêu đề “Aspirin giảm nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim: Bạn nên biết về sự thật”.

Trong brochure, FDA đưa ra lý do căn bản của việc khuyến cáo không nên sử dụng aspirin nếu không được giám sát chặt chẽ. FDA chỉ ra một tình trạng ngược đời rằng mặc dù có những nguy hiểm tiềm tàng nhưng aspirin là thuốc không kê đơn và có sẵn tại mọi quầy bán lẻ thuốc.

Tiếp đó, FDA giải thích rõ ràng rằng aspirin có hai công dụng. Thứ nhất, thuốc được lưu hành trên thị trường với các chỉ định đã được FDA chấp thuận bao gồm giảm đau, hạ sốt trong đau đầu, sưng, đau hoặc sốt, những chỉ định này cho phép bệnh nhân sử dụng thuốc một cách an toàn và hiệu quả. Trong khi đó, chỉ định ngăn ngừa nhồi máu cơ tim lại không có trên nhãn. Tuy nhiên, với chỉ định này, bệnh nhân không thể sử dụng aspirin theo cách thông thường mà cần phải có sự tư vấn của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe.

Thông tin cho các nhà lâm sàng

1. Liều lượng

Bệnh nhân nên uống aspirin với nhiều nước. Đối với bệnh đột quỵ do thiếu máu cục bộ và cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời, liều khuyến cáo của FDA là 50 – 325 mg một lần một ngày, đối với chỉ định ngăn ngừa nhồi máu cơ tim tái phát, dùng liều 75 – 325 mg một lần một ngày, không xác định thời hạn.

 

2. Cảnh báo

- Tránh khuyến cáo sử dụng aspirin cho bệnh nhân bị suy thận nặng ([GFR] < 10 mL/phút).

- Tránh khuyến cáo sử dụng aspirin cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan nặng.

- Bệnh nhân có tình trạng giữ muối (ví dụ suy tim sung huyết, suy thận) phải tuân theo chế độ ăn hạn chế muối và tránh dùng các loại thuốc aspirin được bào chế dưới dạng muối Na+.

- Aspirin làm tăng men gan, ure máu và creatinin huyết thanh. Nó còn có thể gây tăng kali huyết, protein niệu, thời gian chảy máu kéo dài.

3. Tương tác thuốc

Aspirin làm giảm tác dụng của các thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế beta, thuốc làm tăng thải acid uric qua nước tiểu (probenecid và sulfinpyrazone), làm tăng độc tính của acetazolamide và methotrexate, kéo dài thời gian prothrombin và thời gian chảy máu ở những bệnh nhân uống warfarin, làm tăng hoạt tính chống đông của heparin, làm giảm nồng độ phenytoin trong máu, tăng nồng độ acid valproic huyết thanh. Nếu dùng đồng thời với NSAIDs, aspirin có thể gây chảy máu hoặc giảm chức năng thận.

4. Chống chỉ đinh:

Aspirin chống chỉ định đối với những bệnh nhân dị ứng với NSAIDs, bệnh nhân bị hen, viêm mũi và polyp mũi. Aspirin cũng có thể gây phản ứng quá mẫn, phù thanh quản, mày đay nặng, phù Quincke, hen. Tất cả các thuốc chứa salicylate đều có cảnh báo về hội chứng Reye’s có thể xảy ra ở trẻ em hoặc trẻ vị thành niên đang bị nhiễm virus có hoặc không có sốt.

5. Phụ nữ mang thai và cho con bú

Aspirin có thể làm mất cân bằng nội mô ở cả mẹ và trẻ, làm giảm cân, tăng tỉ lệ tử vong chu sinh. Dùng aspirin trong 3 tuần đầu của thai kỳ có thể gây hẹp ống động mạch, trong tuần cuối trước khi sinh có thể gây chảy máu quá mức trong lúc sinh. Ức chế prostaglandin do aspirin có thể làm kéo dài giai đoạn thai nghén và đau đẻ. Khi aspirin xâm nhập vào sữa có thể gây chảy máu, phát ban, bất thường tiểu cầu ở trẻ sau khi sinh.

6. Cảnh báo/ Phản ứng không mong muốn

Aspirin có thể gây đau dạ dày, khó tiêu, ợ nóng, buồn nôn, nôn mửa, loét, chảy máu dạ dày nặng. Bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày không nên dùng aspirin. Aspirin cũng có thể gây hạ đường huyết ở trẻ em.

7. Quá liều

Bệnh nhân có thể do vô tình hay cố ý bị quá liều aspirin. Dấu hiệu sớm là ù tai. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đã có tình trạng nghe kém trước đây, thì không thể phát hiện được ù tai, và ù tai không thể là dấu hiệu để nhận biết đã sử dụng salicylate.

Một số thông tin khác

Vào tháng 10 và tháng 11 năm 2012, The National Institutes of Health (NIH) đã công bố kết quả nghiên cứu của mình và khuyến cáo: nên sử dụng liều 81 mg/ngày cho bệnh nhân có bất kì yếu tố nguy cơ về tim mạch, bệnh nhân bị suy yếu tâm thần nhẹ, Alzheimer’s nhẹ đến trung bình và sử dụng liều thấp aspirin 100 mg/ngày giúp làm giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tái phát.

Thông tin cho bệnh nhân

Aspirin có thực sự là thuốc?

Mọi người thường nghĩ thuốc không kê đơn, thuốc thảo dược, thực phẩm chức năng an toàn hơn thuốc kê đơn. Mặc dù dễ dàng được chấp thuận, nhưng thuốc không kê đơn vẫn có những nguy hiểm và một số bệnh nhân hoàn toàn không nên sử dụng. Đây là một thách thức lớn đối với thuốc không kê đơn. Mặc dù nhãn thuốc luôn cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho người sử dụng nhưng hầu như rất ít người đọc các hướng dẫn sử dụng này. Aspirin, đặc biệt, chỉ nên được sử dụng khi có sự tư vấn của những người có chuyên môn.

 Nguồn: http://www.uspharmacist.com

 

 

 

CẢNH GIÁC DƯỢC

 


 

AZITHROMYCIN VÀ NGUY CƠ VỀ NHỊP TIM

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) vừa đưa ra cảnh báo azithromycin có thể gây ra những thay đổi bất thường trong hoạt động điện tim dẫn đến rối loạn nhịp tim và gây tử vong ở một số bệnh nhân. Bệnh nhân có nguy cơ đặc biệt dẫn đến tình trạng trên bao gồm những bệnh nhân có khoảng QT kéo dài, nồng độ kali hoặc magie trong máu thấp, nhịp tim chậm hơn so với bình thường, hoặc đang sử dụng một số loại thuốc điều trị nhịp tim bất thường, hoặc loạn nhịp tim.

Các nhãn thuốc của azithromycin đã được cập nhật thêm vào phần Cảnh báo và Thậọng các thông tin liên quan đến nguy cơ kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh, cụ thể là bất thường nhịp tim hiếm gặp.

Các chỉ định của azithromycin đã được FDA chấp thuận bao gồm:

-         Đợt kịch phát cấp do vi khuẩn trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

-         Viêm xoang cấp do vi khuẩn

-         Viêm phổi mắc phải cộng đồng

-         Viêm họng/viêm amidan

-         Nhiễm trùng da và cấu trúc da đơn giản

-         Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung

-         Vết loét sinh dục

Về phía bệnh nhân, FDA khuyên không nên ngưng dùng azithromycin mà không hỏi ý kiến bác sĩ, khi có bất cứ câu hỏi hay thắc mắc về azithromycin hoặc các kháng sinh khác nên hỏi bác sĩ, và nếu gặp trường hợp nhịp tim không đều, khó thở, chóng mặt hoặc ngất xỉu trong khi đang dùng azithromycin thì nên đến ngay trung tâm y tế để được giúp đỡ.

Về phía các nhân viên y tế, nên xem xét các nguy cơ xoắn đỉnh và loạn nhịp tim gây tử vong khi đưa ra lựa chọn điều trị với azithromycin hoặc các thuốc kháng sinh thay thế. Nhóm có nguy cơ cao bao gồm:

-         Bệnh nhân có khoảng QT kéo dài, có tiền sử xoắn đỉnh, hội chứng QT kéo dài bẩm sinh, nhịp tim chậm, hoặc suy tim mất bù.

-         Bệnh nhân dùng thuốc gây kéo dài khoảng QT.

-         Bệnh nhân có tình trạng loạn nhịp tim tiến triển như hạ kali máu hoặc magie máu chưa điều chỉnh, chậm nhịp tim có ý nghĩa lâm sàng, và ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chống loạn nhịp như quinidine, procainamide hoặc dofetilide, amiodarone, sotalol.

-         Bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân mắc bệnh tim có thể nhạy cảm hơn với những tác động trên khoảng QT của thuốc loạn nhịp.

 

Nguồn: http://www.fda.gov/

  

THÔNG TIN – ĐIỂM BÁO

 


 

THÔNG BÁO

Sở Y tế thành phố Đà Nẵng

1. V/v đình chỉ lưu hành thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng

Căn cứ vào công văn số 2661/QLD-CL ngày 26 tháng 02 năm 2013 của Cục Quản lý Dược, để đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dùng thuốc, Sở Y tế thành phố Đà Nẵng thông báo đình chỉ lưu hành thuốc MIRACEF 50 OS (Cefpodoxime proxetil for oral suspension); Lô SX: E037; Ngày SX: 06/2012; Hạn dùng: 05/2015; SĐK: VN-14461-12 do Công ty Miracle Labs (P) Ltd., India sản xuất; Công ty CP Dược - TBYT Đà Nẵng nhập khẩu, do thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu định lượng.

 

2. V/v quản lý, sử dụng thuốc có chứa hoạt chất gây nghiện và tiền chất

Hiện nay, trên thị trường Đà Nẵng có các thuốc chữa ho có chứa hoạt chất gây nghiện Codein base (PHARCOTER, Terpin – codein,...) và các thuốc cảm cúm có chứa tiền chất Pseudoephedrin (TIFFY, DECOLGEN,...) ở dạng phối hợp và trên thực tế đã có tình trạng người nghiện cố ý sử dụng các thuốc ho có chứa hoạt chất gây nghiện (Codein base) nhằm mục đích ma túy.

Để đảm bảo đủ thuốc đáp ứng nhu cầu phòng, chữa bệnh của người dân và ngăn ngừa các trường hợp cố ý sử dụng các thuốc ho có chứa chất gây nghiện và các thuốc cảm cúm có chứa tiền chất với mục đích ma túy, Sở Y Tế thành phố đề nghị:

- Các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn hướng dẫn cho người bệnh hiểu rõ về vai trò, tác dụng của các thuốc ho có chứa hoạt chất Codein base và các thuốc cảm cúm có chứa tiền chất Pseudoephedrin ở dạng phối hợp để người bệnh yên tâm sử dụng.

- Các cơ sở kinh doanh tiếp tục mua bán và quản lý các thuốc chữa ho có hoạt chất Codein base và các thuốc cảm cúm có chứa tiền chất Pseudoephedrin ở dạng phối hợp theo đúng quy định hiện hành.

 

3. V/v rút số đăng ký của thuốc

Ngày 26 tháng 2 năm 2013, Cục Quản lý Dược đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-QLD về việc rút số đăng ký của thuốc Streptomycin Sulfate, bột pha tiêm 1g, SĐK: VN-5413-08 do Công ty TNHH Thương mại Thăng Long (127 Quốc Bảo, Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội) đăng ký, công ty North China Pharmaceutical Group Formulation Co., Ltd sản xuất ra khỏi danh mục các thuốc được cấp số đăng ký lưu hành trên thị trường Việt Nam.

 

 

 

CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ LẬU CẦU ĐA KHÁNG

DS. Hà Thị Như Liên

Theo một báo cáo được công bố trên số ra ngày 15 tháng 2 vừa qua của Morbidity and Mortality Weekly Report, bệnh lậu đa kháng đang gia tăng tại Hoa Kỳ; do đó, Trung tâm phòng và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã cập nhật phác đồ điều trị mới.

Trong năm 2011, 11.8% các chủng nghiên cứu đề kháng penicillin, 22.7% kháng tetracycline, và 13.3% kháng fluoroquinolone. Tại Hoa Kỳ, bệnh lậu đứng hàng thứ hai trong số các bệnh nhiễm trùng được báo cáo thường xuyên nhất, với hơn 300,000 trường hợp được báo cáo trong năm 2011. Bệnh lậu là một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục gây ra bởi vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae. Hầu hết các trường hợp là không có triệu chứng, và nếu không được điều trị hoàn toàn, bệnh có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây truyền HIV, gây ra bệnh viêm vùng chậu, thai ngoài tử cung, và vô sinh.

Thử nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh không phải là thử nghiệm thường xuyên có sẵn trong lâm sàng. Năm 1986, CDC đã phát triển Hệ thống giám sát các chủng lậu cầu (GISP) để theo dõi tính nhạy cảm kháng sinh trên các chủng N. gonorrhoeae thu được từ những người đàn ông được chăm sóc bởi các phòng khám chuyên về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD).

Tình trạng đề kháng với sulfonamides phổ biến trong những năm 1940, do đó đã được ngưng sử dụng. Trong những năm 1980, các chủng đề kháng với penicillin và tetracycline cũng trở nên phổ biến.

Trong những năm 1990 và những năm 2000, fluoroquinolones được sử dụng rộng rãi. Trong năm 2007, với các số liệu thu thập được trên cả nước, CDC khuyến cáo ngưng chỉ định fluoroquinolone để điều trị bệnh lậu sau khi GISP thấy rằng tỷ lệ N. gonorrhoeae kháng fluoroquinolone là trên 5%.

Cephalosporins như cefixime và ceftriaxone sau đó đã trở thành nhóm kháng sinh duy nhất được đề nghị chỉ định để điều trị nhiễm trùng do lậu cầu.

Ngày nay, GISP đã có bằng chứng cho thấy lậu cầu kháng cephalosporin có thể đang phát triển ở Hoa Kỳ.

CDC khuyến khích các chương trình kiểm soát bệnh lây qua đường tình dục tại địa phương và tiểu bang để xác định các khu vực dân cư có tỷ lệ nhiễm cao, giúp sàng lọc và cải thiện việc phòng ngừa ban đầu.

CDC cập nhật các khuyến cáo điều trị mới như sau:

-         Điều trị bệnh lậu: tiêm bắp liều duy nhất 250mg ceftriaxone kết hợp với uống azithromycin 1g liều đơn hoặc doxycycline 100mg hai lần mỗi ngày trong 7 ngày.

-         Nếu không có ceftriaxone, bệnh nhân có thể uống kết hợp cefixime 400mg liều duy nhất và azithromycin 1g liều duy nhất hoặc doxycycline 100mg hai lần mỗi ngày trong 7 ngày.

-         Nếu bệnh nhân bị dị ứng với cephalosporin, có thể chỉ định azithromycin 2g liều duy nhất.

Bệnh nhân được kê đơn một trong các thuốc lựa chọn thay thế cho ceftriaxone nên quay lại để kiểm tra lại sau một tuần.

Các bác sĩ nên thử nghiệm tính nhạy cảm ở những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị và thông báo cho chương trình y tế công cộng địa phương về các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Các phòng thí nghiệm được yêu cầu thông báo cho các bác sĩ và chương trình kiểm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục địa phương khi họ phân lập được các chủng có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) cephalosporin cao  (cefixime MIC ≥ 0,25 mg/ml hoặc ceftriaxone MIC ≥ 0,125 mg/ml).

Bệnh nhân và bạn tình của họ cần phải được đánh giá và điều trị một cách thích hợp.

 

Nguồn: http://www.medscape.com/

 

 

 

KHÁNG SINH DỰ PHÒNG TRƯỚC PHẪU THUẬT: THỜI GIAN KHÔNG LÀM THAY ĐỔI NGUY CƠ

DSĐH. Nguyễn Thị Phương Trinh

Một nghiên cứu được xuất bản online trên JAMA Surgery vào ngày 20 tháng 3 vừa rồi chỉ ra rằng không có bằng chứng cho thấy kháng sinh dự phòng cần phải sử dụng trong vòng 60 phút trước khi phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật không có mối liên quan có ý nghĩa với thời điểm sử dụng kháng sinh dự phòng. Nguy cơ nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật thay đổi theo bệnh nhân, tiến trình phẫu thuật và đặc tính của kháng sinh.

Mary T. Hawn, bệnh viện Birmingham Veterans Administration, Alabama, và đồng nghiệp mô tả công trình của họ như là “một nghiên cứu lớn nhất đánh giá mối quan hệ giữa thời điểm sử dụng kháng sinh dự phòng và nguy cơ nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật trong những ca phẫu thuật lớn và là nghiên cứu duy nhất đánh giá thời điểm sử dụng kháng sinh như là một biến số liên tục”. Họ không quan sát thấy mối quan hệ giữa thời điểm sử dụng kháng sinh dự phòng và nguy cơ nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật nhưng họ lại thấy có một mối liên hệ có ý nghĩa giữa việc lựa chọn kháng sinh và nguy cơ nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật trong phẫu thuật chỉnh hình và phẫu thuật đại – trực tràng.

Nghiên cứu xét thời điểm dùng thuốc như là một biến số liên tục, bao gồm những dữ liệu về mức độ phẫu thuật và thông tin chi tiết của bệnh nhân, và nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật 30 ngày đầu sau phẫu thuật. Nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình, đại – trực tràng, phẫu thuật mạch và phẫu thuật phụ khoa.

Nhóm nghiên cứu so sánh tỉ lệ nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật giữa những bệnh nhân dùng kháng sinh trong vòng 60 phút và trên 60 phút trước khi phẫu thuật. Sau khi điều chỉnh các yếu tố khả biến như bệnh nhân, tiến trình phẫu thuật, kháng sinh, nhóm nghiên cứu nhận thấy không có mối liên hệ có ý nghĩa giữa thời điểm chỉ định kháng sinh dự phòng và tỉ lệ bệnh nhân nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật.

Leigh Neumayer, Đại học Utah, thành phố Salt Lake, đồng tác giả của bài báo phát biểu rằng: “Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tỉ lệ nhiễm trùng sau phẫu thuật giảm ở những bệnh nhân sử dụng kháng sinh dự phòng so với không sử dụng. Bài báo này không phải là một lời kêu gọi từ bỏ việc sử dụng kháng sinh dự phòng, tuy nhiên, nó một lần nữa nhấn mạnh rằng sử dụng kháng sinh dự phòng như hiện nay không cải thiện thêm kết quả. Chúng tôi sẽ làm việc với các cơ quan liên bang và địa phương để đưa ra các chứng cứ mạnh mẽ hơn để đem lại kết quả tốt nhất cho bệnh nhân”.

 

Nguồn: http://www.medscape.com/

Các bản tin khác :