Thông tin thuốc số 01/2013







HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC AN TOÀN HỢP LÝ

 


 

THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Các loại chấn thương khác nhau có thể dẫn đến tổn thương dây thần kinh, là nguyên nhân chính của tàn phế chức năng. Vì chấn thương dây thần kinh là dạng phổ biến nhất của chấn thương hệ thần kinh gặp phải trong thực hành lâm sàng, cho nên tế bào thần kinh chết do chấn thương là một vấn đề lâm sàng quan trọng. Mục tiêu của việc điều trị là phục hồi chức năng cho các dây thần kinh bị tổn thương, cải thiện chất lượng cuộc sống, và giảm đau thần kinh. Đau thần kinh tương đối khó điều trị. Chiến lược điển hình là sử dụng từ các thuốc tác dụng ngắn để giảm đau cho đến các thuốc tác dụng lâu dài, như thuốc chống động kinh hoặc thuốc chống trầm cảm. Trường hợp đau dai dẳng có thể cần bổ sung thêm một thuốc chống trầm cảm hay thuốc chống động kinh mà cơ chế hoạt động của nó khác với cơ chế hoạt động của thuốc đang được sử dụng. Các thuốc gây nghiện chỉ dùng để kiểm soát cơn đau dữ dội. Vì có nhiều loại thuốc được dùng để kiểm soát đau do chấn thương dây thần kinh nên việc nắm rõ chỉ định của thuốc đang sử dụng cũng như liều lượng khuyến cáo cho từng chỉ định cụ thể là rất quan trọng.

 

Bảng 1: Các thuốc giảm đau, gây tê và chống trầm cảm dùng trong điều trị đau do thần kinh.


Bảng 2
: Các thuốc chống động kinh dùng trong quản lý đau thần kinh. 



Thuốc giảm đau

Thuốc giảm đau giúp kiểm soát đau ngắn hạn và ngay lập tức, nhưng thường đáp ứng kém, bao gồm thuốc kháng viêm không steroid, tramadol, và các opioid. Thuốc giảm đau opioid phụ thuộc liều và liên quan đến nồng độ huyết thanh, nhưng liều bị giới hạn bởi độc tính và tác dụng phụ. Thuốc mê và các thuốc tác dụng tại chỗ như capsaicin cũng có tác dụng giảm đau, tuy nhiên, capsaicin không được khuyến cáo do hiệu lực giảm đau của nó không ổn định và trên thực tế có thể làm mức độ đau trầm trọng thêm.

Thuốc chống trầm cảm

Thuốc chống trầm cảm, đặc biệt là các nhóm chống trầm cảm ba vòng (TCA), nhóm ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) và nhóm ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine (SNRI), có hiệu quả giảm đau cao nhưng bị hạn chế do tác dụng phụ của nó. TCA có tác dụng phụ là kháng cholinergic như khô miệng, bí tiểu, táo bón, hạ huyết áp thế đứng và chóng mặt. Bệnh nhân uống SSRI và SNRI có thể bị rối loạn chức năng tình dục, tiêu chảy, buồn ngủ, khô miệng, và chóng mặt.

Thuốc chống động kinh

Việc sử dụng các thuốc chống động kinh để quản lý đau thần kinh bắt nguồn từ những điểm tương đồng giữa các cơ chế sinh lý bệnh động kinh và đau thần kinh. Những thay đổi của các gen mã hóa cho các kênh Na+ và Ca2+ dẫn đến những biến đổi trong phân phối và cấu trúc của chúng. Những thay đổi trong các thuộc tính sinh lý, cũng như sự tích lũy bất thường của kênh Na+ trong các thụ thể đau và các thần kinh cảm giác dẫn đến sự phóng lực lạc chỗ với tần suất cao trong các tế bào thần kinh bị tổn thương, tương tự như những gì xảy ra với tình trạng quá kích của động kinh.

- Carbamazepine, là thuốc chống động kinh đầu tiên được nghiên cứu để giảm đau thần kinh. Carbamazepine và phenytoin là chất chẹn kênh Na chặn sự phóng điện lạc chỗ tần số cao, chống lại các cơn động kinh và cơn đau thần kinh. Các y văn ủng hộ việc dùng carbamazepine để quản lý đau thần kinh hơn là phenytoin.

- Gabapentin có cấu trúc tương tự gamma-aminobutyric acid (GABA) nhưng nó không gắn với các thụ thể GABA, không ảnh hưởng đến sự hấp thu hoặc chuyển hóa GABA. Gabapentin hoạt động thông qua các loại alpha-2-delta của kênh Ca2+, mặc dù cơ chế chính xác chưa được biết. Trong một số thử nghiệm, gabapentin đã được chứng minh có hiệu quả giảm đau rõ rệt khi điều trị các chứng đau thần kinh. Liều khởi đầu từ 300mg mỗi ngày và có thể tăng thêm 300 mg mỗi ngày cho đến khi đạt được một đáp ứng đầy đủ hoặc người bệnh gặp các tác dụng phụ làm giới hạn liều dùng. Khoảng liều hiệu quả từ 900 đến 3600 mg mỗi ngày chia ba lần. Gabapentin dung nạp tốt, các tác dụng phụ phổ biến nhất là chóng mặt ở mức độ nhẹ đến trung bình, buồn ngủ, mất điều hòa, và lẫn lộn.

- Pregabalin có cơ chế hoạt động tương tự như gabapentin, và như gabapentin nó không ảnh hưởng đến các thụ thể GABA. Hiệu quả giảm đau của pregabalin có thể thấy được ngay trong tuần đầu điều trị, và liều lượng hiệu quả là 150 – 600 mg mỗi ngày uống chia 2-3 lần. Pregabalin thường dung nạp tốt, các tác dụng phụ thường gặp nhất là chóng mặt, buồn ngủ, phù ngoại biên. Thuốc được thải trừ qua thận, và hơn 98% không bị biến đổi trong nước tiểu.

- Gabapentin và pregabalin đặc biệt hiệu quả đối với bệnh đau thần kinh ở bệnh nhân có tiền sử rối loạn tim mạch, tăng nhãn áp, hoặc bí tiểu.

- Lamotrigine chẹn kênh Na và do đó ức chế sự phóng thích glutamate, có khả năng điều chỉnh và kiểm soát cõn đau do thần kinh tương đối tốt, mặc dù việc sử dụng lamotrigine cũng chưa được xác minh rõ ràng.

- Một bài tổng quan của Cochrane gần đây đã kết luận rằng thuốc chống động kinh lacosamide dường như không mang lại bất kỳ lợi ích nào trong việc giảm đau do thần kinh.

 

Nguồn: http://www.uspharmacist.com/

 
TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM DƯỢC ĐỘNG HỌC CỦA MỘT SỐ KHÁNG SINH SỬ DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NÃO/ ÁP XE NÃO

DSĐH. Nguyễn Thị Quỳnh Trang


* Khả năng thấm qua màng não của Imipenem/cilastatin ở trường hợp viêm là 15% và không viêm là 10%, tuy nhiên, khuyến cáo không chỉ định Imipenem/cilastatin trong điều trị nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương do nguy cơ gây co giật cao

Nguồn:

  1. 1.     Antibiotic Essentials, 9th edition.
  2. 2.     Drug Information Handbook, 19th edition.
  3. 3.     Practice guidelines for the Management of Bacterial Meningitis (IDSA guidelines).
  4. 4.     Use of Quinolones in treatment Bacterial Meningitis, The Quinolones.
  5. 5.     Penetration of pefloxacin into cerebrospinal fluid of patients with meningitis.

(http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC176153/)


CẢNH GIÁC DƯỢC


 

 

KHUYẾN CÁO MỚI VỀ LIỀU ZOLPIDEM

DSĐH. Nguyễn Thị Hà Giang

Ngày 10/01/2013 vừa qua, FDA đã đưa ra thông tin mới về zolpidem – thuốc thường được kê đơn rộng rãi trong trường hợp mất ngủ. Qua đó, FDA khuyến cáo cần cắt giảm liều uống trước khi ngủ của các thuốc có chứa zolpidem, vì những dữ liệu mới đây cho thấy nồng độ thuốc trong máu ở một số bệnh nhân vào buổi sáng hôm sau vẫn còn cao đến mức làm hạn chế các hoạt động cần sự tỉnh táo, chẳng hạn như lái xe. Thông báo này tập trung vào các thuốc chứa zolpidem được chỉ định uống trước khi ngủ, gồm các biệt dược Ambien, Ambien CR, Edluar, và Zolpimist.

Sử dụng liều zolpidem thấp hơn sẽ làm giảm nồng độ thuốc trong máu vào buổi sáng hôm sau, vì vậy, FDA đã yêu cầu các nhà sản xuất thuốc có chứa hoạt chất zolpidem giảm mức liều khuyến cáo. Cụ thể, đối với bệnh nhân nữ, nên giảm liều từ 10mg xuống 5mg đối với các thuốc phóng thích tức thời (Ambien, Edluar, và Zolpimist) và từ 12,5mg xuống 6,25mg đối với các thuốc phóng thích kéo dài (Ambien CR); đối với bệnh nhân nam, khuyến cáo các cán bộ y tế cần cân nhắc kê đơn ở mức liều thấp hơn: 5mg đối với các thuốc phóng thích tức thời và 6,25mg đối với các thuốc phóng thích kéo dài. 

Khuyến cáo này không áp dụng cho biệt dược Intermezzo – một thuốc chứa zolpidem ở liều thấp, được chỉ định để điều trị chứng mất ngủ do thức giấc lúc nửa đêm.

Bên cạnh đó, FDA cũng khuyến cáo các cán bộ y tế nên thông báo cho tất cả bệnh nhân đang sử dụng zolpidem lưu ý về nguy cơ này, đặc biệt là nữ giới do zolpidem thải trừ ra khỏi cơ thể chậm hơn so với nam giới.

 

Nguồn: http://www.fda.gov/Drugs/DrugSafety/

 

MỘT SỐ CẬP NHẬT MỚI VỀ ĐỘ AN TOÀN

TRÊN TIM MẠCH CỦA CÁC NSAID

DSĐH. Hà Thị Như Liên

Ủy ban các sản phẩm thuốc dùng trên người (CHMP) thuộc Cơ quan quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) cho biết có những hạn chế quan trọng trong tất cả các dữ liệu nghiên cứu về thuốc giảm đau không steroid (NSAID) gần đây (hạn chế trong phương pháp sử dụng và quần thể nghiên cứu). Hầu hết các dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ học so sánh những người đã sử dụng thuốc với những người không uống thuốc, trong khi đó có rất ít dữ liệu mới từ các thử nghiệm lâm sàng so sánh các NSAID với liệu pháp khác trong khung cảnh khoa học có kiểm soát hơn. Đồng thời, có rất ít dữ liệu về ảnh hưởng của bất kỳ NSAID không chọn lọc nào ở các liều hoặc thời gian điều trị khác nhau.

Đối với naproxen và ibuprofen, Ủy ban này kết luận rằng bằng chứng mới nhất về nguy cơ tim mạch phù hợp với những kết luận trước đây của CHMP. Không thể loại trừ khả năng làm tăng nhẹ nguy cơ bị các đợt huyết khối khi sử dụng các loại thuốc này, đặc biệt là khi dùng dài ngày và ở liều lượng cao. Điều này khẳng định rằng thông tin kê đơn hiện có phản ánh chính xác nguy cơ trên tim mạch đã được biết đến của các loại thuốc này.

Đối với diclofenac, Ủy ban cũng kết luận rằng các kết quả nghiên cứu mới nhất phù hợp với những bằng chứng trước đây về tăng nguy cơ nhồi máu, đột quỵ hoặc các vấn đề khác về huyết khối. Tuy nhiên, các dữ liệu hiện có luôn chỉ ra rằng nguy cơ này ở diclofenac cao hơn so với các NSAID ức chế không chọn lọc khác, và có thể so sánh với các nguy cơ đã biết của các NSAID ức chế chọn lọc COX-2. Mặc dù nguy cơ được nhận thấy ở diclofenac chỉ hơi cao hơn các NSAID không chọn lọc khác, nhưng để xác định liệu các khuyến nghị và cảnh báo hiện tại về nguy cơ tim mạch của thuốc có chứa diclofenac có thích hợp hay không thì CHMP vẫn cho rằng cần có thêm những nghiên cứu đánh giá vấn đề xa hơn nữa.

Đối với các NSAID ức chế không chọn lọc khác, hiện không có đủ dữ liệu để CHMP đưa ra các kết luận chắc chắn về nguy cơ tim mạch. Do đó, Ủy ban này kết luận rằng, cùng với các khuyến cáo hiện nay, khả năng tăng nguy cơ của các loại thuốc này cũng không thể loại trừ.

Các NSAID không chọn lọc nên tiếp tục được sử dụng theo các thông tin sản phẩm hiện có cho mỗi thuốc. Theo đánh giá của CHMP, hiện không có thay đổi trong điều trị đối với các thuốc này.

  • Tất cả các NSAID không chọn lọc nên được sử dụng ở liều thấp nhất có  hiệu quả với liệu trình điều trị ngắn nhất có thể.
  • Bác sĩ kê đơn nên lưu ý các thông tin về tính an toàn trên tim mạch và các nguy cơ khác trong thông tin sản phẩm của các NSAID ức chế không chọn lọc. Các bác sĩ nên tuân theo các biện pháp phòng ngừa liên quan và xem xét đến những nguy cơ do thuốc mỗi khi lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân.
  • Bệnh nhân nên hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ nếu có bất kỳ thắc mắc nào trong quá trình sử dụng thuốc.

 

Nguồn: http://ema.europa.eu/                                                                                


THÔNG TIN – ĐIỂM BÁO

 


 

CẬP NHẬT MỘT SỐ KHUYẾN CÁO

TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG

DSĐH. Nguyễn Thị Phương Trinh

Liệu trình sử dụng tamoxifen đối với bệnh nhân ung thư vú

Trước đây, liệu trình điều trị của tamoxifen đối với những bệnh nhân nữ bị ung thư vú là 5 năm. Tuy nhiên, những khuyến cáo gần đây khuyên các bệnh nhân nữ nên điều trị với tamoxifen trong 10 năm thay vì 5 năm.

Kết quả của thử nghiệm ATLAS (Adjuvant Tamoxifen: Longer Against Shorter) cho thấy rằng, khi so sánh với những phụ nữ dùng tamoxifen trong 5 năm, thì những phụ nữ dùng tamoxifen trong 10 năm giảm đáng kể nguy cơ tái phát và tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên, một liệu pháp tamoxifen kéo dài làm tăng có ý nghĩa tỉ lệ các biến cố bất lợi bao gồm ung thư nội mạc tử cung, thuyên tắc phổi và bệnh tim thiếu máu.

Nhìn chung, những kết quả của nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng tamoxifen trong 10 năm hơn là 5 năm ở những phụ nữ dung nạp tốt, nhất là đối với những bệnh nhân có đặc điểm khối u mà nguy cơ tái phát tương đối cao, tiên lượng xấu (ví dụ: di căn hạch, kích thước khối u lớn, phân loại khối u ở mức độ cao).

 

Truyền máu ở những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính

Chỉ định bắt đầu truyền máu ở những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính dựa vào mức độ chảy máu và tình trạng bệnh kèm theo. Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng những bệnh nhân không bị tăng nguy cơ biến chứng thiếu máu sẽ cải thiện kết cục lâm sàng nếu ngưỡng hemoglobin lúc bắt đầu truyền máu thấp hơn (<7 g/dL tốt hơn là <9 g/dL). Những bệnh nhân truyền máu khi hemoglobin < 7 g/dL có tỉ lệ tử vong thấp hơn, và dường như ít bị chảy máu kéo dài cũng như ít bị các biến chứng hơn.

Các nhà nghiên cứu khuyến cáo nên truyền máu để duy trì mức hemoglobin  ≥ 7 g/dL hơn là ở mức ≥ 9 g/dL cho đa số các bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính không có các bệnh kèm phức tạp. Tuy nhiên, các bệnh nhân đang bị chảy máu và giảm thể tích tuần hoàn có thể cần phải truyền máu mặc dù hemoglobin ở mức b́nh thường. Hơn nữa, cần phải truyền máu để duy trì mức hemoglobin ≥ 9 g/dL đối với những bệnh nhân có khả năng tăng nguy cơ các biến cố bất lợi khi bị thiếu máu thật sự, ví dụ như bệnh nhân có bệnh động mạch vành không ổn định.

 

Nguồn: http://www.uptodate.com/

 

 


BEDAQUILINE - THUỐC MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ LAO PHỔI ĐA KHÁNG THUỐC

Ths.Ds. Đoàn Thị Minh Diệu

Tháng 01 năm 2013, FDA chấp thuận Sirturo® (bedaquiline) trong điều trị lao phổi đa kháng thuốc.

Bedaquiline - một thuốc kháng lao có cấu trúc diarylquinoline - hoạt động bằng cách ức chế một enzyme cần thiết cho sự tổng hợp năng lượng của trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis).

Bedaquiline được chỉ định trong trường hợp lao phổi ở người trưởng thành không đáp ứng với các phác đồ điều trị lao khác. Nên dùng kết hợp bedaquiline với ít nhất 3 thuốc kháng lao khác. Thuốc này không được chỉ định với các thể lao dạng tiềm ẩn, lao ngoài phổi hoặc lao nhạy cảm với những thuốc kháng lao được lựa chọn đầu tay. Rất ít hoặc không có dữ kiện lâm sàng trong việc dùng bedaquiline cho những bệnh nhân lao bị nhiễm HIV.

Liều dùng: uống 4 viên bedaquiline 100 mg, ngày một lần trong suốt 24 tuần; sau đó uống 2 viên bedaquiline 100 mg x 3 lần/tuần nhưng cách nhau ít nhất 48 giờ. Nên uống thuốc với nước, tránh dùng rượu và các thuốc độc gan trong suốt thời gian điều trị.

Thận trọng khi dùng bedaquiline vì thuốc làm kéo dài khoảng QT và có thể gây tử vong. Bệnh nhân nên được đo điện tim trước khi bắt đầu dùng thuốc và ít nhất ở tuần thứ 2, 12 và 24 trong liệu trình. Các phản ứng không mong muốn bao gồm: buồn nôn, nhức đầu, ho có đàm lẫn máu, đau khớp và đau ngực.

Dự kiến Janssen sẽ tung ra thị trường biệt dược Sirturo® (bedaquiline) vào quí 2 năm nay. Quy cách đóng gói: bedaquiline sẽ được đóng gói trong chai, mỗi chai 188 viên, mỗi viên hàm lượng 100 mg. Thuốc nên được cấp phát trong bao bì gốc và bảo quản ở nhiệt độ phòng. Nếu viên thuốc được đóng gói lại, nên bảo quản kín và tránh ánh sáng với hạn dùng không quá 3 tháng.

 

Nguồn: http://www.ashp.org

 

Các bản tin khác :